Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

VĂN HOÁ TỐI THIỂU CỦA MỘT HỌC SINH TIỂU HỌC NGÀY XƯA

 VĂN HOÁ TỐI THIỂU CỦA MỘT HỌC SINH TIỂU HỌC NGÀY XƯA


1. Khi người khác rót nước cho mình, đừng chỉ ngồi yên nhìn người ta mà hãy đưa tay ra nâng cốc, điều đó thể hiện phép lịch sự.


2. Khi người khác nói chuyện với mình, ít nhất cũng phải đáp lại người ta một câu. Đừng để người ta nói xong một câu lại nhận về được sự im lặng hoặc câu nói À, Ừ, Ờ, đúng rồi cùng với sự khó chịu.


3. Dùng bữa xong nên nói: "Tôi ăn xong rồi, mọi người cứ ăn đi nhé!"


4. Khi đưa đồ cho người khác nên đưa bằng hai tay.


5. Lúc ăn cơm nên cầm bát lên, không được dùng đũa đảo lộn thức ăn, không gõ bát đũa.


6. Người đi vào cuối cùng nên đóng cửa.


7. Tiễn người khác về nên nói: "Đi cẩn thận nhé!", đợi khách đi xong mới vào nhà.


8. Rửa tay xong không nên tùy tiện vẩy tay, để nước bắn lên người khác sẽ rất bất lịch sự.


9. Khi đưa dao hoặc vật nhọn cho người khác, nên đưa phần chuôi hướng về họ.


10. Không nên công khai điểm yếu của người khác.


11. Khi người khác nói chuyện với mình hãy chú ý vào người ta, đừng đảo mắt nhìn xung quanh.


12. Khi rót trà hay rót nước cho người khác xong, không nên quay vòi ấm về phía họ.


13. Đi, đứng, ngồi, nghỉ cần đúng tư thế, tác phong.


14. Nói được phải làm được. Nếu không làm được thì đừng hứa.


15. Nếu trong phòng có người, khi ra ngoài nên đóng cửa nhẹ nhàng.


16. Khi đưa đồ cho người khác mà ở giữa cách một người, không nên đưa thẳng ra trước mặt người ta mà nên vòng qua phía sau.


17. Học cách dịu dàng và biết lắng nghe.


18. Đến chơi nhà người khác, đừng tùy tiện ngồi lên giường nhà người ta.


19. Ăn cơm cố gắng đừng phát ra tiếng.


20. Lúc nhặt đồ hoặc đi giày nên ngồi thấp xuống chứ đừng cúi người, khom lưng.


21. Khi bị phê bình, dù người khác có sai đi chăng nữa cũng đừng vội phản bác, nên đợi họ nói xong bình tĩnh lại hẵng giải thích.


22. Làm việc gì cũng nên có điểm dừng thích hợp, bất kể là ăn món mình thích hay tức giận điều gì đó.


23. Đến nhà bạn ăn cơm nên chủ động rửa bát hay xếp dọn bàn ăn.


24. Trong cuộc sống bạn sẽ phải gặp nhiều thể loại người khác nhau, chắc chắn không phải ai bạn cũng có thể hòa hợp được nhưng có một câu nói luôn đúng trong mọi trường hợp: Bạn đối xử với người khác thế nào, người ta sẽ đối xử lại với bạn như vậy.


25. Dù là ai, trong trường hợp nào cũng đừng dễ dàng kể bí mật của mình với người khác.


26. Học hành là chuyện cả đời. Chỉ học kiến thức trong sách thôi là chưa đủ, phải học cả kiến thức xã hội. Thực tế cuộc sống luôn phức tạp hơn những gì bạn nghĩ.


27. Dũng cảm nhất là khi nhận ra sự tàn khốc của cuộc sống nhưng vẫn yêu cuộc sống này cháy bỏng. Đừng sợ sự dối trá, nhưng cần phải biết cuộc sống luôn tồn tại sự dối trá.


28. Khi lau bàn nên lau hướng về phía mình.


29. Khi gọi điện thoại hoặc nghe điện thoại, câu đầu tiên phải luôn là: "Alo, chào.... ạ!". Khi tắt máy, nếu người kia là người lớn tuổi hơn bạn hoặc là cấp trên của bạn thì tốt nhất bạn nên chờ họ tắt điện thoại trước, còn nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc cấp trên của họ thì bạn nên chủ động tắt máy trước, đừng để người ở đầu dây bên kia phải đợi.


30. Đừng khạc nhổ hoặc vứt rác bừa bãi. Nếu nơi đó không có thùng rác, hãy cầm rác về vứt vào thùng rác nhà mình.


31. Bất kể trong hoàn cảnh nào cũng nên đánh răng cẩn thận, đặc biệt là vào buổi tối.


32. Tuyệt đối đừng bao giờ bỏ bữa sáng. Nếu không ăn sáng thì cũng phải uống nước hoặc uống sữa.


33. Đỗ xe nên đỗ đúng nơi quy định, chừa không gian cho người khác mở cửa xe, đầu xe nên hướng ra phía ngoài để tiện rời đi.


34. Nếu là cửa thủy lực, dù là cửa đẩy hay cửa kéo cũng nên làm theo quy tắc "Ra trước vào sau". Nếu phía sau có người nên giữ cửa chắc, tránh để cửa bật lại va vào người khác. Khi có người mở cửa giúp mình đừng quên cảm ơn họ.


35. Phép lịch sự nên áp dụng đối với tất cả mọi người, bất kể họ là cấp trên, là người lớn tuổi, là nhân viên phục vụ hay là cô chú lao công bên đường.


ST.


LIỆU CÓ MỘT NGÀY, MÔN LỊCH SỬ SẼ BỊ LÃNG QUÊN?

 LIỆU CÓ MỘT NGÀY, MÔN LỊCH SỬ SẼ BỊ LÃNG QUÊN?



Bài báo: “Lịch sử là môn học bắt buộc, không phải tùy chọn” được đăng trên Chosun vào năm 2013 đã gây chấn động Hàn Quốc, bởi giáo sư Kim Bo Rin của Đại Học Quốc Gia Chungbuk tiết lộ thông tin rằng nhiều học sinh, sinh viên năm nhất theo học tại đây không biết tướng Douglas MacArthur là ai. Đây là vị tướng chỉ huy quân đội Hoa Kỳ hỗ trợ Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh bán đảo Triều Tiên (1950 - 1953). Giáo sư Kim Bo Rin nhận định rằng: “Giáo dục lịch sử phải liên tục, và vì mục tiêu này, giờ học lịch sử cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông không được giảm”.


Từ năm 2005, Hàn Quốc cho phép các môn khoa học xã hội trong khối phổ thông là môn tự chọn và hệ lụy là tỷ lệ đăng ký học Lịch sử giảm dần đều theo thời gian. Và kéo theo đó là một lụy về một thế hệ trẻ không biết chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào thời gian nào, không biết gì về tướng Lý Thuấn Thuần - vị tướng nổi danh nhất lịch sử dân tộc Triều Tiên, vị thế tương đương với tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam. Cuối cùng, Hàn Quốc đưa lịch sử trở lại giáo dục bắt buộc vào năm 2017. Kỳ thi quốc gia CSAT bắt buộc phải có lịch sử. Sau Hàn Quốc thì Nhật Bản tái khởi động chương trình đưa trở lại môn Lịch sử vào trong chương trình THPT bắt buộc vào năm 2019. Bên cạnh đó, giáo dục lịch sử được chú trọng rất mạnh trong bằng cách kết hợp với các môn liên quan đến chữ viết, văn hóa Nhật hay văn học Nhật.


Ba quốc gia ở Đông Á là Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đều đang diễn ra một cuộc “cạnh tranh ngầm” trong giáo dục lịch sử, địa lý. Hàn Quốc lồng ghép những chi tiết liên quan đến thời kỳ Nhật chiếm đóng, Nhật thì lồng ghép các vấn đề chủ quyền đảo Dokdo - Kuril - Senkaku. Còn Trung Quốc thì không thể không đưa vấn đề Đài Loan, các vấn đề chủ quyền… vào giảng dạy chính thống bắt buộc. Giáo sư Huang Hua của ĐH Sư phạm Sơn Tây, Trung Quốc viết trên Nhân dân nhật báo: “Giáo dục lịch sử Trung Quốc nhằm nâng cao phẩm chất nhân văn tinh hoa của công dân, giáo dục bản sắc Trung Hoa và tình yêu nước. Gia tăng sự tự tin, trách nhiệm của công dân. Giúp định vị Trung Hoa giữa thế giới và ngăn chặn chủ nghĩa bịa đặt lịch sử”.


Vậy, Việt Nam - một quốc gia đồng văn Đông Á, đang làm gì với môn lịch sử ở bậc THPT? Nói tóm gọn lại là: “Thích thì học, không thích thì nghỉ”. Vì Lịch sử đã trở thành một môn học tự chọn, không bắt buộc đối với thế hệ bắt đầu học THPT từ năm 2022 trở đi. Lại thêm một tin xấu với môn học vốn đã phải chịu quá nhiều tiếng xấu khác, ví dụ như là môn học có điểm trung bình thấp nhất, có nhiều điểm liệt nhất trong kỳ thi THPT…


Theo một khảo sát nhỏ mình nhận được từ một bạn giáo viên THCS tại TP. HCM, có khoảng 85% các em nhỏ tại ngôi trường này sẽ chọn các môn khoa học tự nhiên (Lý - Hóa - Sinh) vào năm tới, phần còn lại là phân vân. Đó là một dự báo mang tính tham khảo nhưng lại rất dễ có thể xảy ra. Vì cách đây 7 năm vào kỳ thi THPT Quốc gia 2015, chỉ có 150 ngàn thí sinh chọn Lịch sử là môn thi, tương đương 10% số thí sinh. Vào năm ấy, người ta đã đặt ra câu hỏi rằng, đang là môn bắt buộc mà còn bị “ngó lơ”, nếu bỏ qua hay áp Lịch sử thành môn “tự chọn”, thì con số sẽ còn thảm hại đến thế nào.


Một số chuyên gia giáo dục cho rằng việc giảm tải Lịch sử, biến Lịch sử thành môn tự chọn không bắt buộc là cần thiết, để phát huy giáo dục khai phóng giống như các nước Anh, Pháp, Úc. Nhưng, đó là các quốc gia phương Tây, có bối cảnh xã hội, lịch sử, chính trị, dân tộc… quá khác biệt so với Việt Nam. Tại sao các chuyên gia này không lấy Trung, Nhật, Hàn ra để so sánh? Rõ ràng, Trung, Nhật, Hàn đồng văn với chúng ta. Họ cũng là các quốc gia phát triển nhưng vẫn giữ được tính dân tộc cao. Khi các quốc gia này đã đưa trở lại hoặc vẫn luôn duy trì vị thế bắt buộc của bộ môn Lịch sử thì chúng ta lại đang làm khác họ.


Các chuyên gia cũng cho rằng Lịch sử chỉ cần dạy đến hết bậc THCS là đủ. Nhưng các chuyên gia giáo dục Hàn lại chỉ ra rằng đây là quan niệm sai lầm và cần phải khắc phục. vì giáo dục Lịch sử mang tính liên tục và duy trì, không thể “đứt đoạn”. Tư duy của học sinh THCS không thể trưởng thành bằng tư duy của học sinh THPT. Học sinh THCS chỉ tiếp thu kiến thức, nhưng học sinh THPT có thể bàn luận, đúc kết, rút ra kiến thức. Việc duy trì dạy Lịch sử liên tục cũng là một cách để chống những “luận điệu sai trái từ các quốc gia khác” - trong trường hợp của Hàn Quốc là Nhật Bản.


Năm 2013, Bộ Công an và An ninh Hàn Quốc công bố số liệu khảo sát giật mình rằng, có tới 52% học sinh Hàn Quốc không biết ngày nổ ra và kết thúc chiến tranh Triều Tiên, 31% không biết về việc lính Nhật đã từng hành hạ phụ nữ Triều Tiên, 86% không rõ về chủ quyền Hàn Quốc tại đảo Dokdo. Đó là những con số cay đắng sau khi Hàn Quốc đã biến Lịch sử trở thành môn “tự chọn”. Tờ DHNews Korea bình luận: “Lịch sử đã bị lãng quên, cần được giáo dục đúng mức”.


Hãy thử nghĩ xem, sau khi áp Lịch sử thành môn tự chọn, có lẽ sẽ có những lớp người Việt không biết về ngày 30/04/1975 hay 02/09/1945, không rõ về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa - Bạch Long Vĩ… Rồi sự xuyên tạc lịch sử ngày càng nhiều hơn, chủ nghĩa bịa đặt lịch sử và xét lại lịch sử sẽ đến.


Với thời nay, môn Lịch sử là bắt buộc, mà còn la liệt những đám xét lại, một đám người nói cuộc chiến thống nhất Tổ Quốc là “nội chiến”, bênh vực cho Pháp đô hộ Việt Nam là khai hóa nền văn minh, nói Quang Trung - Nguyễn Huệ là hai anh em… Vậy tương lai của môn Lịch sử sau này sẽ ra sao? Kéo theo đó là tương lai đất nước của chúng ta sẽ thế nào? 


Trong bài viết luận bàn về việc dạy học lịch sử trong khối phổ thông là cần thiết của đài truyền hình NHK có câu: “Không có tương lai cho một quốc gia tự lãng quên đi lịch sử của chính mình”. Còn chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút ra rằng: “Dân ta phải biết sử ta - Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.


#tifosi 


Tư liệu tham khảo chính


1. "잊혀지는 역사, 제대로 된 교육이 필요하다!" - DHNews Korea

2. "역사는 '필수' 과목이지 '선택' 아니다" - JB News

3. 加强高校历史通识课程建设之我见 - People China Daily.


Và số tư liệu tiếng Anh, tiếng Nhật khác.


Trong hình là Đại tá Nguyễn Đỗ Sa đứng tại bãi biển Mỹ Khê năm 1994.

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 4)

 



Văn hóa tận dụng của geisha là tiếp thu các lợi thế của văn hóa Âu- Mỹ và phát huy nghệ thuật truyền thống để thu hút khách, phô trương sự lịch lãm, sang trọng. Chương trình Tokyo Rose thời Thế chiến II dùng giọng nữ tuyệt vời đã làm chao đảo tinh thần quân đồng minh. Kiharu Nakamura, một geisha nổi tiếng nhất với biệt danh geisha duy nhất nói được tiếng Anh, trở thành cầu nối về văn hóa giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. nhiều nghệ sĩ và ngôi sao thể thao thế giới đã từng thưởng thức tài nghệ múa hát của Kiharu. Bà cũng chính là nguồn cảm hứng để Cocteau viết nên bài thơ Geisha.Vấn đề mặc quốc phục cũng là một biểu hiện giữ gìn bản sắc của ả đào và geisha. Ngoài nghệ thuật, hình thức cũng là một cách thể hiện văn hóa cổ truyền: người hát trong trang phục truyền thống sẽ khác biệt rất nhiều so với người hát ăn mặc Âu phục.
Sự quan tâm ngày càng cao đối với geisha và ngoại hình đặc biệt của họ đã khơi lên nhiều hiện tượng văn hóa đại chúng ở cả Nhật Bản và phương Tây. Gần đây nhất là phong cách trang điểm kiểu geisha được đề xướng sau thành công và sự nổi tiếng của tiểu thuyết Hồi ức của một geisha và bộ phim cùng tên. Ca sĩ Madonna xuất hiện trên video âm nhạc Nothing Really Matters (1999) trong trang phục kimono cách điệu với trang điểm đậm màu như một geisha.
Ở Việt Nam, không có văn hóa tận dụng này, nguyên nhân chính là do tầng lớp trí thức theo xu hướng hoài cổ không nhiều. Những năm sau 1945, Mỹ ném bom vào xóm Khâm Thiên (Hà Nội), Nguyễn Tuân đã gọi đó là “hành động cư xử thô bạo với tiếng hát ả đào”. Suốt những năm chiến tranh chống Mỹ, tiếng hát ả đào tưởng bị lãng quên, thập niên 80 (TK XX), tiếng hát ả đào mới được Trần Văn Khê giới thiệu ra quốc tế, đào nương Quách Thị Hồ mang vinh quang về cho đất nước với bằng danh dự của UNESCO, các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trên thế giới bắt đầu bị mê hoặc bởi giọng ca độc đáo này. Có thể nói, ca trù được thế giới biết đến nhờ tiếng hát ả đào Quách Thị Hồ trực tiếp hoặc gián tiếp qua đĩa CD đầu tiên mà UNESCO phát hành có tên ca trù.
Đối phó với làn sóng Âu Mỹ hóa, bào mòn văn hóa truyền thống, chính quyền Việt Nam cũng như Nhật Bản có hai cách: cách tiêu cực là cấm hẳn nghề ả đào và geisha, cách tích cực hơn là tìm việc làm mới cho những nghệ nhân, nghệ giả này, đưa họ vào hệ thống quản lý, xem như một nét văn hóa cần bảo tồn. Cũng như ả đào, geisha cũng chịu áp đặt bởi văn hóa Âu Mỹ mà sản phẩm chính là khiêu vũ.
Phản ứng cá nhân trước thời cuộc, các ả đào Việt Nam chọn con đường mai danh ẩn tích, đi làm thuê… trở về với công việc nhà nông là nguồn gốc xuất thân của họ. Trong nhận thức, ả đào hành động theo cảm tính phụ nữ Việt Nam giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Lịch sử đã ghi nhận những chiến công của các ả đào như nàng ca nhi Đào Đặng lập mưu giết giặc Minh, các ả đào hạt Quảng Yên phá súng thần công giặc... Còn geisha thì không tham gia chiến đấu, nhưng họ nhận thức bằng lý trí. Họ biết phát huy ưu điểm là sự cầu kỳ, giỏi thích nghi, khéo chiều chuộng, xa xỉ, khó gần (chỉ có giới quý tộc và doanh nhân mới trả nổi cái giá rất đắt để được gặp geisha). Nhưng điều đó lại càng khiến geisha trở nên hấp dẫn tính hiếu kỳ của mọi người hơn. Văn hóa Nhật còn cho geisha cái đặc quyền được lựa chọn đối tượng phục vụ. Vì người Nhật ưa thực tế hơn và sẵn sàng dẹp bỏ tính tự tôn để thích nghi với tình huống mới. Lối ứng xử này mang đặc trưng rất geisha.
Văn hóa ả đào và văn hóa geisha là hiện tượng có thật, đã từng tồn tại trong lịch sử hai nền văn hóa Việt - Nhật. Đó là văn hóa giải trí, hiểu đơn giản là hình thức mượn tiếng mỹ nhân để thưởng ngoạn nghệ thuật.
Là hiện tượng văn hóa nghệ thuật, đồng thời cũng là hiện tượng xã hội, Ả đào và geisha vừa sống trong môi trường chính trị xã hội hiện hữu vừa sống trong môi trường văn hóa dân tộc, trở thành hình tượng văn hóa của mỗi quốc gia.
Cần phân biệt rõ sự lựa chọn nào của ả đào và geisha là văn hóa và sự lựa chọn nào là phi văn hóa... để có cái nhìn khách quan và nhân văn khi đánh giá ả đào và geisha. Từ đó, hai bên có cách quản lý văn hóa tích cực, giúp phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc.
Hiện tại ở Việt Nam và Nhật Bản còn rất ít những ả đào  geisha thực thụ có được thành công như những gì mà tổ nghề của họ đã gây dựng nên. Thế giới văn hóa tao nhã của ả đào và geisha đang có xu hướng bị thu hẹp, ít mang tính truyền thống hơn để thay vào đó những hình thức giải trí phục vụ số đông. Cũng ít ai bận tâm đến văn hóa truyền thống của hai hình tượng này còn gì là bản sắc, có gì là tiếp biến văn hóa hay không. Chính vì vậy, nét sâu sắc, ý vị của ả đào  nét huyền bí của geisha cần phải được khai thác ở nhiều góc độ.
NGUYỄN HOÀNG ANH TUẤN
Theo http://www.vnq.edu.vn/

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 3)

 


Hệ quả của cấu trúc văn hóa đã tạo điều kiện cho nghề ả đào và geisha một khả năng giao tiếp rộng, ma lực hấp dẫn cao nên nó đóng vai trò định hình bộ mặt văn hóa xã hội. Tiền đề này đã tạo nên một cấu trúc võ sĩ  geisha trong lịch sử, văn chương và văn hóa. Hình tượng kỹ nữ đi vào văn học, như tác phẩm Xứ tuyết của Kawabata mang trong mình niềm mê hoặc đặc biệt về phụ nữ Nhật Bản - điển hình là giới geisha. Ở Việt Nam, tác phẩm Chùa đàn của Nguyễn Tuân cũng dấy lên sự nỗi ám ảnh huyền hoặc về tiếng hát của ả đào có khả năng cứu rỗi số phận một con người, một cộng đồng thôn Mê Thảo.
Mặt khác, nhìn vào cấu trúc văn hóa văn nhân - ả đào, võ sĩ- geisha, ta cũng phần nào hiểu được khả năng tiếp biến văn hóa của người Việt và người Nhật giai đoạn trung cận đại.
Cùng tiếp thu tư tưởng của Nho giáo Trung Hoa, nhưng Việt Nam và Nhật Bản có sự khác nhau. Để tiếp thu cách quản lý tập quyền của Nho giáo, Việt Nam thì rập khuôn, ngay cả giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, chính quyền cũng dựa trên chỉ một bộ máy trung ương- triều Lê, nghĩa là bộ máy quan chế của ta hoàn toàn giống như Trung Quốc. Còn ở Nhật Bản thì theo một hướng khác. Thời trung đại, Nhật Bản đã có 300 lãnh chúa cát cứ, đứng đầu là một lãnh chúa mạnh nhất Mạc Phủ kiêm tể tướng, một đại tướng quân- shogun chứ không phải một bộ máy quan liêu như ở nước ta. “Vì không có bộ máy quan liêu nên nó không dựa vào kẻ sĩ mà phải dựa vào võ sĩ, không có đẳng cấp sĩ phu mà chỉ có thứ bậc võ sĩ”.
Ngoài Nho giáo, ả đào và geisha có chung ảnh hưởng Đạo giáo và tín ngưỡng thờ vật linh. Khởi thủy, geisha là những con đồng ở phái thần đạo, tiêu biểu cho chủ nghĩa khoái lạc - cũng đeo vàng dát ngọc, cũng tin thần linh, bất cứ nhà geisha nào cũng có mèo xứ, sành hay một con cáo - thần Inari, họ tin rằng cáo chạy nhanh sẽ mang những lời cầu khẩn của họ lên trời mau hơn. Ả đào thì thờ Thanh Xà đại vương và Mãn Đường Hoa công chúa (Đinh Lễ - Bạch Hoa) và các vị thần của Đạo giáo như Đông Phương Sóc, Lã Đồng Tân…
Bên cạnh đó, phần lớn các loại hình nghệ thuật ả đào và geisha đều tiếp thu cảm nghiệm của Phật giáo. Nghệ thuật hát ả đào lấy cảm hứng chủ đạo từ triết lý của nhà Phật. Nhiều loại hình nghệ thuật geisha sử dụng như: trà đạo, hoa đạo, hương đạo, thư pháp… cũng nằm trong trường ảnh hưởng của Phật giáo Thiền tông.
Cái đẹp của ả đào và geisha cũng ít nhiều tiếp thu từ cái nhìn mỹ học Trung Hoa, một hệ thống quan điểm về nghệ thuật làm đẹp của nữ giới theo hai hướng mỹ cảm: trau chuốt cầu kỳ đến mức điêu luyện; theo cái đẹp tự nhiên chân chất, mộc mạc nhưng sâu xa, ý vị.
Về mặt này thì Nhật Bản có ưu thế hơn Việt Nam vì tính duy mỹ là văn hóa truyền thống lâu đời của Nhật. Trong Cổ sự ký (Kojiki), huyền tích về thuở hồng hoang Nhật,Thái dương thần nữ Amaterasu là nữ thần của ánh sáng và sắc đẹp. Geisha được miêu tả cụ thể với hình tượng người con gái có làn da trắng xóa như búp bê sứ, đôi môi đỏ chót rực rỡ và đôi chân mày cong vút thanh mảnh đầy duyên dáng. Trang phục kimono: mùa nào các geisha cũng phải thắt lưng (obi) bằng tấm lụa thêu rực rỡ quấn mấy vòng quanh bụng và buộc nút sau lưng, trông như đeo cái trống cho nên còn gọi là nơ trống. Cho thấy, geisha có cả một nghệ thuật trang điểm và làm tóc.
Ở Việt Nam, cái đẹp của ả đào chỉ mang tính ước lệ tổng hợp qua mấy câu thơ của văn nhân xưa (khuyết danh): “Mặt tròn thu nguyệt / Mắt sắc dao cau / Vào - duyên khuê các / Ra - vẻ hồng lâu / Lời ấy gấm - Miệng ấy thêu - Tài lỗi lạc chẳng thua nàng Ban, Tạ / Dịu như mai / Trong như tuyết - nét phong lưu chi kém bạn Vân - Kiều”. Trang phục “đầu vấn khăn, mặt tô son, điểm phấn, tóc bỏ đuôi gà, mặc áo năm thân dài quá gối, màu xanh điểm hoa (có khi dùng màu khác), cài khuy bên phải, quần dài đen chấm gót như các tố nữ trong tranh tứ bình...”. Trong lúc diễn xướng, làm trò, ấn tượng ả đào để lại cho người xem là sự trang nghiêm, trông có vẻ thụ động, có phần âm tính hơn geisha.
Cái đẹp của ả đào tương quan với cái đẹp của geisha.
Ả đào
Geisha

Ngoại hình
Tiếp thu mỹ học Trung Hoa
Xu hướng tự nhiên chân chất, mộc mạc nhưng sâu xa, ý vị
Xu hướng trau chuốt cầu kỳ, điêu luyện, khắc vàng, vẽ nét
Vẻ đẹp tổng quan
Như tranh dân gian giản dị, cổ điển dễ gần
Như búp bê sứ
giả tạo, xa vời, xa xỉ
Trang điểm
Hài hòa, chỉnh chu
Công phu, cách điệu (hát tuồng, mặt nạ, tóc giả)
Trang phục
Áo dài và áo tứ thân ( bình dân)
Cử chỉ, điệu bộ
Thụ động, ít động tác, ít dùng phi ngôn ngữ
Dịu dàng, uyển chuyển, mềm dẻo, nhiều động tác và phi ngôn ngữ
Nội hình
Đức tính
Giỏi chịu đựng
Khéo chiều chuộng
Nhận thức
Cảm tính
Lý tính, thực dụng
Nghệ thuật
Thể loại
Đơn nhất: ca trù
Đa dạng: nhạc, thơ, văn, múa, trà đạo, cắm hoa, thư pháp…
Múa & nhạc cụ
Giản tiện: múa bài bông, nhạc cụ: đôi phách
Phong phú: múa cây tùng, cây bách, anh đào… nhạc cụ: đàn, sáo, trống…
Kỹ năng
Chuyên sâu
Bao quát, tổng hợp
Kết luận
Thiên về cái đẹp truyền thống
Kết hợp cái đẹp truyền thống và hiện đại, hơi đặc biệt, tạo sự thu hút, hiếu kỳ

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 2)

 Lịch sử ra đời của ả đào trước geisha đến ba thế kỷ nhưng khách của ả đào - nhà nho tài tử lại ra đời muộn hơn khách của geisha - tăng lữ và võ sĩ cũng ngần ấy thời gian. Nhà nho tài tử Việt Nam đến muộn mà còn ra đi sớm hơn võ sĩ Nhật. Nguyên nhân là do lịch sử phong kiến Nhật là một vương triều độc lập, đã sớm có những thành tựu văn hóa từ thời Heian (794-1192) - văn hóa của quý tộc, đến giai đoạn nội chiến của các lãnh chúa (1185-1603) tạm gọi là thời trung đại - văn hóa của các tu sĩ và võ sĩ.

Còn Việt Nam, sau 1000 năm Bắc thuộc, những triều đại được gọi là thịnh chỉ mới bắt đầu từ Lý - Trần (1010-1400), sau là Lê - Nguyễn (TK XV - cuối TK XIX). Sự ra đời của nhà nho tài tử gắn liền với sự phát triển của đô thị, mà ở Việt Nam do tình hình chiến tranh liên miên nên đô thị phát triển không mạnh và không liên tục. Vì thế tầng lớp thị dân Việt Nam cũng ra đời muộn hơn Nhật Bản .
Cũng như ả đào có tiền thân là con hát, ca nương (TK II trước CN), geisha khởi thủy với hai tiền thân là saburuko (cuối TK VII) nghĩa là người phục vụ và Shirabyoshi (TK XI) lúc đầu chỉ là tên một vũ khúc, về sau nó được đặt tên cho các cô gái thường biểu diễn vũ khúc này để phục vụ cho các võ sĩ (samurai). Vào cuối TK XVI đến đầu TK XVII, khi cấu trúc xã hội Nhật bị phá vỡ, sự sa sút của nhiều gia đình quý tộc khiến cho nhiều cô gái biến thành shirabyoshi để có thể tồn tại.
Và trong khi ả đào khai sinh liền với sự ra đời của ca trù từ TK XV thì mãi đến TK XVIII, geisha của Nhật Bản mới hình thành. Thế kỷ XVIII ở Nhật là thời Edo (1603-1868) với văn hóa thị dân (chonin): thương nhân, nghệ sĩ, kỹ nữ, thời của những thành phố không đêm, của nhà hát, lữ quán, những cuộc vui thâu đêm suốt sáng.
Vào năm những năm 1945, nghề ả đào suy tàn thì nghề geisha cũng tàn lụi khi Nhật Bản dốc toàn lực vào Thế chiến II, dù sau đó có được phục hồi, thời hoàng kim đã qua đi vĩnh viễn. Đội ngũ geisha lại thiếu vắng người kế cận khi Quốc hội Nhật Bản ban hành luật cấm thiếu nữ chưa tròn mười lăm tuổi học làm maikô (tức geisha tập sự). Thống kê năm 1980 cho biết cả nước Nhật còn đến 17.000 geisha hành nghề, đến nay chỉ vào khoảng 200, chủ yếu ở cố đô Kyoto.
Như vậy, về mặt lịch đại, ả đào có lịch sử hình thành sớm hơn geisha rất nhiều. Nhưng xét về mặt đồng đại thì văn hóa đô thị của ả đào xuất hiện muộn và kết thúc sớm hơn geisha. Sự chênh lệch này ảnh hưởng lớn đến văn hóa ứng xử trong tiếp biến văn hóa của hai hình tượng này.
Không gian của ả đào  giáo phường  ca quán. Giáo phường là trường dạy nhạc, ca quán là nhà hát, về sau các ca quán kiêm luôn chức năng vừa đào tạo vừa kinh doanh nghề hát như nhà geisha. Nhà geisha còn đặc biệt hơn ca quán ở chỗ, nó được xây dựng theo mô hình kiến trúc nhà Minh-dành riêng cho việc ăn chơi, hưởng lạc. Các geisha tập trung hầu hết ở Kyoto,một cố đô với hình ảnh lặng lẽ, huy hoàng của một quá khứ, và thủ đô Tokyo với nhịp sống sôi động, ồn ào của xã hội công nghiệp. Các nàng sống tập trung tại một vài khu phố, người Nhật gọi là hanamachi (hoa nhai). Geisha thành phố (machi geisha) hoạt động tự do tại các buổi tiệc bên ngoài các khu phố giải trí, trong khi các geisha khu phố (kuruwa geisha) giải trí cho khách trong các buổi tiệc  các khu phố giải trí.
Ca quán, cũng như nhà geisha, là không gian giải trí, không gian cảm hứng nghệ thuật, không gian làm việc (viết báo, xã giao, bàn việc kinh doanh…) của khách làng chơi. Không gian văn hóa geisha, cũng như không gian văn hóa ả đào, mang dáng dấp cung đình hơn dân dã, đó là không gian phòng, không có những tiết mục sôi động như ca vũ tạp kỹ. Vì thế, nhạc cụ cũng khá tinh giản, ả đào chỉ dùng đôi phách tre, geisha ngoài cây đàn shanmisen còn dùng sáo trúc và mấy chiếc trống, trống nhỏ tsutsumi vác lên vai, trống nhỡ ôkawa kê trên đùi, còn trống lớn taikô đặt cạnh người diễn.
Nhưng xét riêng từng khía cạnh, sự khác biệt cơ bản giữa ả đào và geisha là chủ thể văn hóa: một bên là văn hóa làng xã và văn hóa quý tộc phong kiến, còn một bên là văn hóa thị dân. Nguyên nhân là do sự khác biệt về giai cấp giữa ả đào và geihsa. Ả đào xuất thân từ giai cấp nông dân. Trong sinh hoạt đời thường của con nhà nông, ả đào ban ngày làm ruộng vườn hoặc chăn tằm dệt vải. Đến tối họ tới giáo phường để luyện tập đàn hát do quản giáp và mấy ả đào già nhiều kinh nghiệm chỉ bảo. Geisha xuất thân từ tầng lớp thị dân. “Con nhà gia thế sa cơ dấn thân vào chốn xa mã công khanh. Họ có giao ước với mụ chủ thời hạn làm việc, họ được tự do, không có một thế lực gì bắt họ phải theo ý muốn người khác được, ở phòng trà ấy, họ được giáo dục hoàn hảo”. Nhiều giesha nhận được sự nâng đỡ từ những gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu, các dòng họ nổi tiếng.
Từ khác biệt cơ bản trên, ta hiểu văn hóa ả đào có nguồn gốc từ văn hóa tín ngưỡng tôn giáo dân gian, từ một nghệ nhân chuyên hát thờ ở đình làng về sau mới trở thành một cô đầu chuyên phục vụ giải trí cho quý tộc, trí thức. Trong khi đó, văn hóa geisha chỉ thuần túy là văn hóa giải trí, không dính dáng gì đến tín ngưỡng tôn giáo.
Song, ả đào và geisha đều tương đồng ở chỗ cả hai có một đời sống văn hóa theo những quy phạm nhất định. Họ bị cấm ăn mặc khó coi, phải mặc cùng một kiểu trang phục, tóc chải theo một kiểu đồng nhất, chỉ phục vụ những nhóm khách vài ba người và không bị ép buộc phải tiếp người khách nào mà họ không thích. Được yêu quý, trọng vọng, nhưng theo quy luật của nghề nghiệp, họ phải chôn chặt những khát khao thầm kín, ngay cả tình yêu trong thế giới đầy chuẩn mực.
 đối tượng khách của ả đào  geisha đều là nam giới nên khi đề cập hai hình tượng này không thể không xét đến khía cạnh văn hóa giới - mối quan hệ nam và nữ nhìn từ văn hóa xã hội.
Ở đây có sự tương đồng về cấu trúc văn hóa giới, nếu ả đào luôn đi cạnh văn nhân Việt Nam thì geisha không thể tách rời võ sĩ Nhật, cũng như thiền sư và kỹ nữ nói chung. Cấu trúc này không có gì thay đổi về bản chất, chỉ thay đổi về hình thức danh xưng, văn nhân xưa kia là nhà nho, hiện đại là trí thức, văn nghệ sĩ được gọi chung là quan viên; khách của geisha trước đây là võ sĩ thì ngày nay là khách thượng lưu, gọi chung là người bảo trợ (danna)…
Cấu trúc văn hóa này đã làm nên nét đặc thù riêng cho văn hóa ả đào và văn hóa geisha, giúp ta nhận diện ra đó là thứ văn hóa giải trí. Ả đào và geisha đóng vai trò là người phục vụ văn hóa truyền thống (ả đào xướng thơ, hầu rượu), geisha phục vụ bằng nghệ thuật hát, thưởng trà, rượu, ngâm thơ... Qua đó ta thấy ả đào và geisha cũng có nhiều nét tương đồng về quan niệm mỹ học, triết lý nhân sinh. Văn hóa giải trí này tạo ra những điều kiện và phương tiện (ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu) cho mối quan hệ giao tiếp xã hội.
Như trên, ta thấy ả đào và geisha luôn bị đặt trong mối quan hệ phụ thuộc nhà nghề và phụ thuộc người đàn ông - khách chơi nghệ thuật. Theo truyền thống, ả đào không được kết hôn với người ngoài nghề. Geisha cũng không được kết hôn hoặc khi kết hôn thì phải kết thúc sự nghiệp.

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 1)

 Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN

Từ TK XVI, Việt Nam và Nhật Bản đã có quan hệ ngoại giao kinh tế, thành quả là khu phố cổ Hội An-một di sản nhân loại. Song, quan hệ ngoại giao văn hóa giữa hai nước chưa có những sự kiện xứng tầm quốc tế. Trong tương lai, Việt Nam và Nhật Bản cần một đối tượng để đối thoại văn hóa, thông qua đó hai dân tộc biết được những điều mà họ có chung để cùng chia sẻ và chuyển hóa những giá trị văn hóa. Chúng tôi đề xuất hình tượng người ca nữ như một hiện tượng mà hầu như nền văn hóa nào cũng có từ rất lâu đời. Tuy không có quan hệ tiếp biến văn hóa, nhưng điều thú vị là khi nói đến ả đào Việt Nam, người ta có tâm lý liên tưởng đến nàng geisha Nhật Bản và ngược lại.
Với khái niệm ả đào và khái niệm geisha, hai dân tộc Việt - Nhật có chung một cách hiểu, đó là cách gọi biểu trưng cho cái đẹp, biểu tượng của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Người Việt Nam hình dung geisha như một ả đào Nhật Bản, và có lẽ, để hiểu khái niệm ả đào, người Nhật sẽ cho rằng đó là geihsa Việt Nam.
Geisha (tiếng Nhật: nghệ giả con người của nghệ thuật)  người nghệ sĩ vừa có tài ca múa nhạc, lại vừa có khả năng phục vụ nhu cầu văn hóa truyền thống Nhật Bản (trò chuyện, trà đạo, cắm hoa, thư pháp...). Trong lịch sử, geisha là một nghề khởi đầu là nam giới, song, do tính tất yếu của nghề nghiệp và tâm lý nhìn nhận của xã hội, người ta vẫn nghĩ geihsa là nữ nghệ giả, chỉ đề cập đến geihsa nữ- như một đối trọng so sánh với ả đào Việt Nam.
Ả đào là tên gọi (cổ xưa nhất) đã có từ đời Lý Thái Tổ (TK XI), theo truyền thuyết về Đào thị có nhan sắc, giỏi ca hát được vua khen tặng, nên dân gian gọi ca nương hát ca trù là ả đào nhằm chỉ người con gái đẹp, hát hay. Từ đây, ta có nội hàm của khái niệm: ả đào là chức danh của một nữ nghệ nhân hát ca trù, còn được gọi  cô đầu. Từ cô đầu thì có người cho là cô đào bị nói trệch đi ( là chữ nho có nghĩa là cô, ả đào có nghĩa là cô đào). Đỗ Trọng Huề thì cho là chữ đầu ám chỉ tiền hoa hồng (tiền đầu) mà các cô ca sĩ phải trả cho thày dạy hát của mình. Cô đầu lại cũng thường được dùng để chỉ những cô ca sĩ có nhiều học trò. Cô đầu thoát thai từ ả đào. “Tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng, tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc danh ca”.

Mùa thu nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam (phần 8)

 


Tại sao Chế Lan Viên lại ghét mùa xuân mà mãi mong nhớ mùa thu? Khác với nhiều nhà Thơ mới, mùa xuân hay mùa thu trong thơ Chế Lan Viên không phải là chuyện cảnh thiên nhiên, không chỉ là sự vận động của thời tiết làm vui hay cho buồn lòng người. Mà hình tượng mùa thu trong thơ Chế Lan Viên mang ý nghĩa triết lý về thời gian, về một thái độ sống. Đó là câu chuyện về hiện tại và quá khứ, về hướng vọng và niềm tin đắm đuối của một tâm hồn: 
“Đường về thu trước xa lăm lắm 
Mà kẻ đi về chỉ một tôi” 
(Thu) 
Trong Điêu tàn, mùa thu là biểu tượng của dĩ vãng xa xăm. Thật lạ khi Chế Lan Viên một mình trở về trên con đường thời gian xa mờ tít tắp. Và càng lạ hơn khi quá khứ mà nhà thơ không nguôi tìm về, đâu chỉ có vàng son mà phần lớn là hoang tàn, đổ nát. Nếu các nhà thơ lãng mạn cùng thời tìm ở mùa thu những gam màu dịu nhẹ, những nỗi buồn hắt hiu, sâu lắng thì Chế Lan Viên tìm thấy ở mùa thu sự tàn tạ, chán nản não nề. Mặc dù là như thế, nhưng Chế Lan Viên vẫn thích mùa thu, bởi chính sự tàn lụi ấy mang dấu tích một thời xưa oai linh hùng vĩ. Lúc này thi sĩ Chế Lan Viên trở thành một con người cô độc, luôn tìm kiếm hình bóng rực rỡ trong những gì đang rụng, đang “tan tác đổ”. Chế Lan Viên đã bày tỏ tiếc nuối với sự sống bị lụi tàn khi thu sang. Nhà thơ không nén được sự buồn giận trước cảnh hoa tàn, lá rụng: 
“Thu đến đây! Chừ, mới nói rằng 
Chừ đây buồn giận biết sao ngăn? 
Tìm cho những cánh hoa đang rụng 
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn! 
Tìm cho những nét thơ xanh cũ 
Trong những tờ thơ lá võ vàng…”
(Thu) 
Luôn sống trong hoài niệm nên gặp mùa thu này mà nhà thơ cứ nhớ về mùa thu trước, giữa hiện tại mà nhà thơ cứ đắm mình vào quá khứ. 
Với tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến, nhớ nhung và hoài niệm, khi mùa thu qua đi, Tế Hanh đã bộc lộ cảm xúc của mình qua hình ảnh tượng trưng của gió, của mây, của nắng: 
“Mùa thu đã đi qua còn gửi lại 
Một ít vàng trong nắng, trong cây 
Một ít buồn trong gió trong gió, trong mây 
Một ít vui trên môi người thiếu nữ”. 
(Bài thơ tình ở Hàng Châu) 
Tế Hanh đã tinh tế rút lấy cái thần, cái hồn của thiên nhiên để bộc lộ cảm xúc đa dạng, bộc lộ sự phong phú của trái tim mình. Đồng thời nhà thơ gửi lại vào thiên nhiên cả cuộc sống, tâm hồn mình, khiến cho cảnh vật không chỉ có hình sắc mà còn chất chứa bao tiếng nói. Vốn là người yêu cái đẹp, suốt cuộc đời Tế Hanh luôn đi tìm và chắt chiu cái đẹp, từ vẻ đẹp thanh cao đến vẻ đẹp bình dị của cuộc đời, của thiên nhiên. Sức sống bền bỉ của tâm hồn thơ ông ẩn đằng sau những vần thơ miêu tả thiên nhiên. Tế Hanh thật tinh tế khi ông chớp lấy những khoảnh khắc gặp gỡ giữa tâm tình của mình với cái đẹp trong sự luân chuyển của thiên nhiên, tạo vật và để thiên nhiên “nói” giúp tâm tình người. 
Khi mùa thu chia xa, nhà thơ cảm nhận được cái buồn vắng, nhớ thương bởi sự ly cách: 
“Em đi trăng sắp độ ròn 
Mùa thu quá nửa, lá giòn khua cây 
Tiễn em trong cảnh thu này 
Lòng ta muôn tiếng, sao đầy lặng im” . 
(Mùa thu tiễn em) 
Không gian ở đây là không gian tĩnh, vũ trụ như ngưng lại trong phút giây chia ly của đôi lứa. Nỗi lòng của nhà thơ hòa quyện vào với vẻ đẹp quyến rũ của mùa thu. 
Mùa thu dường như có mặt trong thơ của Lưu Trọng Lư ở những thời điểm có ý nghĩa cho tình yêu đôi lứa. Những hỉnh ảnh đẹp như vầng trăng thu trong Tình điên đã chứng kiến biết bao vui buồn của chàng trai và cô gái: 
“Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu 
Em cười em nói suốt canh thâu 
Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi 
Tình đến muôn năm chửa bạc đầu”. 
(Tình điên)
Thơ Lưu Trọng Lư là những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mờ ảo. Những bản nhạc chìm sâu trong sương mờ, Tiếng thu vẫn ngâm, vẫn ca hát trong trái tim người người. Tiếng thu cũng là tiếng thầm thì, kín đáo, đi vào thế giới bên trong và lắng sâu trong tâm trạng. Lưu Trọng Lư đã nhạy cảm và đồng cảm khi lắng nghe âm thanh của mùa thu. Khi những ngày nắng hạ vừa tắt lửa, những cơn gió heo may thổi về, thiên nhiên đã ở vào buổi giao mùa. Các nhà thơ mới đều tinh tế và sớm cảm nhận những âm thanh thầm thì: 
“Thu đến, nơi động tiếng huyền” 
(Thơ duyên) 
Như có sự giao cảm trong không gian và thời gian, trong không khí của mùa thu và cao hơn cả, thiết tha hơn cả là trong Tiếng thu: 
Tiếng thu chính là cái hồn của rừng quê, của trời đất và cái hồn hậu chất phác của chú nai vàng. Đó là tấm lòng của nhà thơ đang chờ đợi một bạn đường, rủ mình theo những lối cỏ, dẫn đến miền đất hứa, với bao điều tốt đẹp mà mình hằng ước mơ, khao khát. Dưới con mắt đa tình của nhà thơ, gió cũng biết “đau”, một nỗi đau thương quằn quại trong tâm hồn. Đọc những câu thơ trên tôi tưởng như bất lực, không biết viết sao trước ý thơ của thi nhân. 
Bằng những cảm hứng lãng mạn, các nhà Thơ mới đã họa lên trong thơ mình những bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và đường nét độc đáo. Mùa thu trở thànnh nguồn cảm hứng của các nhà Thơ mới trong tâm tư riêng cuả mỗi người, nhưng nó đều mang nỗi niềm riêng của nhiều thế hệ. Với những tác phẩm viết về mùa thu của các nhà Thơ mới, chúng ta thấy rõ một cái tôi trữ tình thành thật với những cảm xúc, trạng thái của mình. Ở đó, con người sống cho mình, cho tình cảm của riêng mình, chứ không còn là tiếng nói của thời đại hay giai cấp. Sự thành thật trong trạng thái cảm xúc của các nhà Thơ mới đã đem đến cho thơ một cách thức biểu hiện mới, tự do hơn, thoáng đãng hơn và tinh tế hơn.
Nguyễn Thị Huyền