Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

Bác Hồ trong trái tim nhân loại

 Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất đọc tại lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình, có đoạn: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết! Anh em và bầu bạn khắp năm châu cùng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc của chúng ta ...Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta"..

Bác Hồ trong trái tim nhân loại 1  

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 9-9-1969
[size]
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã rút ra chân lí: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản" (Bài Ðoàn kết giai cấp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria số 25 tháng 5-1924).
Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và suốt đời vun đắp cho tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Việt Nam với bè bạn năm châu. Hoạt động không mệt mỏi của Người cho sự đoàn kết và hiểu biết giữa các dân tộc đã có hiệu quả thiết thực. Từ rất sớm, Người đã được coi như một biểu tượng cao đẹp của đoàn kết quốc tế. Trên tạp chí  Ngọn lửa nhỏ, số 39,  nhà văn, nhà báo Liên Xô Ô xít Manđenxtam, trong bài Thăm một chiến sĩ  Cộng sản quốc tế - Nguyễn Ái Quốc đã nhận xétTừ gương mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa. Không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai... Qua phong thái thanh cao và trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốcchúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. (Chủ tịch Hồ Chí Minh  với nước Nga. Ban Tuyên giáo Trung ương. NXB CTQG. 2013, tr. 49.)
[/size]
Bác Hồ trong trái tim nhân loại 2  

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu giải phóng miền Nam, tháng 9-1969
[size]
Cảm phục cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh cho dân tộc, nhân loại và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người, nhân dân ta và bạn bè trên thế giới đã dùng những lời tốt đẹp nhất để ca ngợi Người.
DOrvill, Phó Tổng giám đốc UNESCO nói: “Câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh: Không có gì quý hơn Độc lập tự do, có giá trị toàn cầu”. ( HVCTQGHCM. Báo cáo Tổng quan đề tài “Tư tưởng Đạo đức Hồ Chí Minh, giá trị và sức sống lan tỏa” H. 2016. tr  243. Bản vi tính. Phạm Ngọc Anh).
Thủ tướng Ấn Độ Nê Ru: “Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”. (như trên. tr 255).
M. Haxeegaoa, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Nhật Bản: “Những lời dạy trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải được thực hiện ở bất cứ nơi nào trên quả đất” (như trên, tr 264.)                        
Nikita Khơ rút xốp, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô trong hồi kí của mình đã  coi Hồ Chí Minh  là “vị Thánh cách mạng, vị thánh của Chủ nghĩa cộng sản”. Ông giải thích:” Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, tôi đã biết rất nhiều người, nhưng không có người nào gây được ở tôi một ấn tượng đặc biệt như Hồ Chí Minh. Không ai có thể chống lại nổi ông vì niềm tin của ông mãnh liệt, tin ở nhân dân mình và tất cả các dân tộc cũng như ở sự nghiệp cao cả”. (như trên, tr 239- 240).
[/size]
Bác Hồ trong trái tim nhân loại 3  

Nhân dân vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh
[size]
Nhà nghiên cứu, nhà văn Helene Tourmaire trong cuốn sách : “Trở thành người Bác như thế nào?, xuất bản ở Bec-lin Đức, đánh giá: “Hồ Chí Minh là hình ảnh sự khôn ngoan của Đức Phật, lòng nhân từ của Chúa, tinh thần nhiệt tình cách mạng của Lênin, sự ung dung của một người chủ dân tộc. Tất cả được kết hợp hài hòa trong một dáng dấp tự nhiên.”
Năm 1987, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) đã  tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỉ niệm Người trên toàn thế giới vào năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người.
[/size]
Bác Hồ trong trái tim nhân loại 4  

Thiếu nhi múa hát dưới tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố mang tên Người
[size]
50 năm - nửa thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày Hồ Chí Minh từ biệt thế giới này để trở về với cõi vĩnh hằng, nhưng Người còn sống mãi trong trái tim nhân loại, sống mãi với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế, bởi vì cuộc đời hoạt động và sự nghiệp vĩ đại của Người là tấm gương cao đẹp tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn, kết tinh những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ lớn của nhân loại. Ðúng như lời phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romet Chandra: "Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao".

[/size]
                                                                             Hà Nội, tháng 5-2019

TS. Chu Đức Tính
(Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Vua Minh Mạng và việc đặt quốc hiệu Đại Nam

 

Thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam, mỗi triều đại đều rất quan tâm đến quốc hiệu (tên gọi) của đất nước. Vấn đề đó cũng không phải mới mẻ đối với vương triều Nguyễn. Thông thường, mỗi vương triều không muốn dùng quốc hiệu của các vương triều trước mà sẽ đặt một quốc hiệu khác.
Khi Nguyễn Ánh (vua Gia Long) lên ngôi thiết lập ra vương triều Nguyễn thì quốc hiệu của đất nước cũng được thay đổi. Đặt quốc hiệu là việc quan trọng thể hiện uy quyền của vương triều đối với thần dân và các nước lân bang.

Vương triều Nguyễn, quốc hiệu Việt Nam tồn tại trong thời gian 34 năm (1804 – 1838). Sau khi lên nối nghiệp vua Gia Long, vua Minh Mạng đã cho thay đổi quốc hiệu Đại Nam vào năm Minh Mạng thứ 19 (1838). Sự kiện này được phản ánh trong mộc bản triều Nguyễn và được xác nhận bằng một văn bản quan trọng là bản Dụ của vua Minh Mạng bố cáo cho toàn thần dân trong nước và các nước đều biết.Trong lịch sử nước ta có một hiện tượng rất thú vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước (Quốc danh) không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc hiệu đó tồn tại liên tục đến đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh ngày 10.01.1226 lại mở đầu bằng câu: “nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 – 1407) đổi Quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn) nhưng đa số dân chúng vẫn gọi là Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi là Giao Chỉ. Thế kỷ XV, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi có viết: “Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt”, nhưng trong Bình Ngô đại cáo ông lại viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.
Vào năm 1804, vua Gia Long đổi tên quốc hiệu là Việt Nam. Điều đó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng là Chiếu của vua Gia Long năm thứ 3 (1804) cách đây 209 năm và được công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao. Mộc bản triều Nguyễn là dạng tài liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là “Di sản tư liệu của nhân loại”. Đây là một kho tài liệu quý hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt – Lâm Đồng). Trong nhiều nội dung mà khối tài liệu này đang hàm chứa, có sự kiện vua Minh Mạng đặt quốc hiệu nước ta là Đại Nam
Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục Chính biên đệ nhị kỷ” (ghi chép lịch sử thời vua Minh Mạng), quyển 190, phản ánh vua Minh Mạng giải thích việc đặt quốc hiệu là Đại Nam như sau: “…Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng đều thuộc vào trong bản bản đồ, bờ biển rừng sâu khắp nơi đều theo về cả. Trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam thì càng tỏ nghĩa lớn… Chuẩn từ nay trở đi, Quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô phải chiếu theo đó tuân hành. Giả hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam về lẽ vẫn phải, không được nói hai chữ Đại Việt. Còn Hiệp kỷ lịch năm nay trót đã ban hành thì không phải thay đổi hết thảy… Lấy năm Minh Mạng thứ 20 bắt đầu đổi thành chữ Đại Nam mà ban hành để chính tên hiệu cho các nơi xa gần đều biết”.
Trên thực tế, Quốc hiệu Đại Nam tồn tại từ 1838 đến 1945 (107 năm) nhưng thời gian sau quốc hiệu này không còn thông dụng. Khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam, tên gọi Việt Nam được sử dụng ít hơn trước. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước trong các tác phẩm và các tổ chức chính trị như: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (1905), Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925) và Hội Việt Nam độc lập đồng minh (1941)… Ngày 02.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn đôc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa Quốc hiệu này. Từ đấy, Quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất.
Lê Khắc Niên


Lật lại chiến tranh Nam - Bắc triều

 Bắt đầu cuộc chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê

Bắc triều là nói về nhà Mạc. Nam triều là nói về nhà Lê Trung Hưng (nhưng thực chất là với họ Trịnh). Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập nên triều Mạc vào năm 1532. Chỉ một năm sau, năm 1533, Nguyễn Kim, một cựu thần nhà Lê chạy sang Ai Lao (Lào) tìm được hậu duệ nhà Lê lập lên làm vua. Và như thế cuộc chiến tranh bắt đầu.
Trong những năm đầu, lực lượng của nhà Lê còn non yếu, mấy lần kéo quân về nước đều không thành công, lại phải rút về Sầm Châu trên đất Lào. Đến năm 1539, Nguyễn Kim đánh chiếm được Lôi Dương, Thanh Hóa và năm sau chiếm được Nghệ An, tạo được địa bàn vững chắc để làm căn cứ địa.
Bấy giờ Mạc Đăng Dung đã truyền ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh. Mạc Đăng Doanh chết trẻ, chỉ ở ngôi được 10 năm. Con trưởng là Mạc Phúc Hải lên ngôi cũng chỉ được 5 năm thì chết.
Trong khoảng 15 năm ấy, nhà Mạc nhiều lần đánh dẹp, nhưng không nổi, ngược lại nhà Lê mỗi lúc một mạnh lên. Năm 1543, quân nhà Lê do Nguyễn Kim chỉ huy đã đánh chiếm được thành Tây Đô (Thanh Hóa), tổng trấn giữ thành là Dương Chấp Nhất buộc phải đầu hàng.
Hai năm sau, Nguyễn Kim lại cầm quân tiến đánh Sơn Nam, nhưng mới chỉ đến Yên Mô, Ninh Bình thì ông bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết. Tất cả quyền bính chuyển sang tay con rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm lui quân về Thanh Hóa, lập hành điện tại sách Vạn Lại làm "tổng hành dinh" như một kinh đô mới cho vua ở và tập hợp lực lượng, chiêu mộ quân sĩ, tích trữ lương thảo...
Lật lại chiến tranh Nam - Bắc triều Ktt_5_8_chientranh_out_kien_BBZQ
Tranh minh họa
[size]
Kỳ phùng địch thủ
Tại triều đình nhà Mạc, Mạc Đăng Dung đã mất, đời vua thứ tư là Mạc Phúc Nguyên lên ngôi khi còn nhỏ tuổi. Việc triều chính và binh quyền giao tất cả cho chú là Mạc Kính Điển trông coi.
Từ đây trên hai trận tuyến Bắc - Nam có hai vị tướng tài ba, kỳ phùng địch thủ đối địch với nhau cân tài cân sức. Phía nhà Mạc, đại tướng Mạc Kính Điển là một nhà quân sự thao lược. Lại có Lê Bá Li, một lão tướng trải nhiều kinh nghiệm trận mạc trợ giúp.
Phía nhà Lê là Trịnh Kiểm, tài kiêm văn võ, giương ngọn cờ phò Lê diệt Mạc, nhưng nắm mọi thực quyền trong tay, rất giỏi điều binh khiển tướng. Dưới thời Mạc Phúc Nguyên, Mạc Kính Điển đã mười lần cầm quân đánh vào Thanh Hóa. Quân Trịnh chống đỡ vất vả, nhưng cũng buộc được quân Mạc phải lui binh. Ngược lại, quân Trịnh sáu lần đem quân đánh ra Bắc, nhưng chiến sự cũng chỉ diễn ra quanh quẩn vùng Sơn Nam, Ninh Bình.
Năm 1551, một biến cố xảy ra trong triều đình nhà Mạc. Bị vu oan, lão tướng Lê Bá Li và thông gia là Thượng thư Nguyễn Thiến đem hàng loạt tướng giỏi và hàng vạn quân lính vào Thanh Hóa quy phục nhà Lê.
Nhân cơ hội này, Trịnh Kiểm dẫn quân ra Bắc ba mặt tấn công Đông Kinh (Thăng Long). Chiếm được kinh đô, nhưng thế lực quân Mạc còn mạnh, Trịnh Kiểm không dám rước vua ra Bắc, mà đành lại lui quân về trấn giữ Thanh Hóa.
Mạc Kính Điển củng cố lực lượng, lại nhiều phen đem quân thủy bộ tấn công trở lại. Có lần ông đem 300 chiến thuyền vượt qua cửa Thần Phù, tiến đánh đến gần sách Vạn Lại thì bị phục binh của Trịnh Kiểm đánh tan. Lần khác ông phải nhảy xuống sông trốn thoát.
Trịnh Kiểm cũng nhiều lần đánh ra Sơn Nam vơ vét thóc gạo mang về Thanh Hóa. Chiến tranh liên miên, dân tình khốn khổ chẳng bao giờ được sống yên bình.
Năm 1559, Trịnh Kiểm đem 6 vạn quân ra đánh, đã chiếm được cả vùng rộng lớn ở mạn Thái Nguyên, Kinh Bắc và các huyện ở Hải Dương. Tưởng chừng như lần này thành công, nhưng quân của Mạc Kính Điển lại đánh tập hậu vào Thanh Hóa, Trịnh Kiểm phải vội kéo quân về giữ đất Tây Đô.
Đánh nhau giằng co mãi. Nhà Lê tuy đã "trung hưng" nhưng thực ra chỉ chiếm cứ được xứ Thanh. Ngay cả đất Nghệ An cũng thường bị quân Mạc dùng thủy quân nhiều lần đột nhập đánh phá, mà quân Trịnh không ứng cứu kịp. Về sau tướng nhà Lê là Nguyễn Hoàng (con trai Nguyễn Kim) chiếm cứ Thuận Hóa, quân Mạc mới không tiến đánh được Nghệ An nữa. Nhà Mạc cũng chỉ làm vua ở miền Bắc mà thôi.
(còn nữa)
Dĩ Nguyên[/size]

Bài cúng động thổ làm nhà, văn khấn động thổ xây nhà

 Trước khi bắt đầu công việc xây dựng bất kỳ công trình gì, dù lớn hay nhỏ thì người ta đều cần phải làm lễ động thổ để báo cáo và xin thần linh phù hộ cho việc xây dựng được thuận lợi, an toàn. Vì vậy, các nghi thức trong lễ cúng động thổ làm thế nào là đúng luôn được rất nhiều người quan tâm. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ với bạn cách sắm lễ và bài cúng động thổ làm nhà chuẩn nhất.

Ý nghĩa của lễ cúng động thổ

Theo tín ngưỡng dân gian của người Việt từ xưa đến nay, mỗi mảnh đất, mỗi ngôi nhà đều có một vị thần "trấn trạch" gọi là Thổ Công (hay Ông Địa). Xây dựng các công trình nhà ở, kiến trúc... là đụng đến Thổ Công, đụng đến thần linh, vong linh ở khu đất đó nên phải làm lễ cúng động thổ. 

Lễ cúng động thổ làm nhà về bản chất là để người chủ công trình báo cáo và xin phép các vong linh đang trú ngụ tại đó hãy vui vẻ và hoan hỷ chuyển sang một nơi khác để cho việc thi công được tiến hành thuận lợi. Bên cạnh đó, cúng động thổ xây nhà còn mang ý nghĩa cáo trạng với Thổ Công, Thành Hoàng trong khu vực đó về sự thay đổi sắp diễn ra với khu đất công trình.

Ý nghĩ lễ cúng động thổ làm nhà, làm công trình

Hầu như ở khắp Việt Nam, từ Nam ra Bắc, một khi bắt tay vào khởi công một công trình xây dựng thì dù quy mô lớn hay nhỏ cũng đều phải chuẩn bị lễ cúng động thổ thật chu toàn theo đúng văn hoá và tục lệ của địa phương đó. Đặc biệt, nếu như người chủ công trình hoạt động trong ngành bất động sản, có liên quan trực tiếp đến nhà đất thì điều này càng quan trọng hơn.

Thông thường, để lễ động thổ làm nhà diễn ra suôn sẻ, đầu tiên người chủ cần phải chọn tuổi đẹp để khởi công, sau đó xem hướng chính của công trình nên quay về đâu để hợp với tuổi, mệnh... của gia chủ. Sau đó, gia chủ mới tiến hành xem ngày đẹp, giờ đẹp để làm lễ cúng động thổ làm nhà. 

Khi làm lễ cúng động thổ làm nhà, làm công trình thì không thể thiếu những lễ vật dâng lên thần thánh và các vong linh, vậy, sắm lễ động thổ cần những gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần tiếp theo của bài viết nhé!

Sắm lễ động thổ cần những gì?

Sắm lễ cúng động thổ cần những gì?

Mỗi vùng miền địa phương sẽ có quy định về cách thức chuẩn bị và sắp xếp lễ động thổ của riêng mình, tuy nhiên, vẫn có những lễ vật chung, không thể không có trong mâm lễ cúng động thổ, đó là:

  • Một bộ tam sên bao gồm thịt luộc, tôm luộc và trứng luộc
  • Một con gà hoặc heo quay hoặc cả hai, tùy theo điều kiện kinh tế của người chủ

  • Một đĩa xôi hoặc bánh chưng, bánh hỏi tùy theo văn hóa của từng vùng
  • Một đĩa muối
  • Một bát gạo
  • Một bát nước
  • Nửa lít rượu trắng
  • Bao thuốc, bình trà
  • Giấy cúng động thổ
  • Năm lá trầu, năm quả cau hoặc 3 miếng trầu cau
  • Mâm ngũ quả (mâm ngũ quả cúng động thổ xây nhà, làm nhà bao gồm 5 loại trái cây cúng động thổ khác nhau tùy thuộc vào từng vùng miền)
  • Hoa tươi

Sau khi đã chuẩn bị xong lễ vật để cúng động thổ thì gia chủ cần chuẩn bị bài văn khấn động thổ để đọc trong lúc làm lễ. Dưới đây là bài cúng động thổ làm nhà chuẩn mà chúng tôi đã sưu tầm được. 

Bài cúng động thổ làm nhà 2022

Bài văn khấn lễ cúng động thổ làm nhà

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

- Con kính lạy Quan Đương niên.

- Con kính lạy các Tôn phần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là:...

Ngụ tại:...

Hôm nay là ngày… tháng….năm….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Hôm nay tín chủ con khởi tạo…. (nếu cất nóc thì đọc là cất nóc, nếu xây cổng thì đọc là xây cổng, nếu chuyển nhà thì đọc là chuyển nhà) ngôi đương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu. Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (hoặc cất nóc). Tín chủ con lòng thành lễ vật dâng lên trước án thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên Đường Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa Long Mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lạc, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!