Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

XUẤT XỨ CÂU "NHÂN SINH THẤT THẬP CỔ LAI HY"

Trong bản Di chúc, Bác trích câu thơ này để nói vui về tuổi thọ, có xuất xứ từ một bài thơ của Đỗ Phủ, là câu thơ thứ tư trong thủ thứ hai của bài “Khúc Giang-Nhị thủ”, nguyên văn như sau:
Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xử hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến
Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương thưởng mạc tương vi

(Trích “Đường thi tinh phẩm giám thưởng từ điển”)

Dịch nghĩa:
Đi chầu về, ngày nào cũng đem áo rét mùa Xuân đi cầm cố. Mỗi ngày ở (quán) ven sông say khướt mới ra về. Nợ tiền rượu là chuyện bình thường vẫn xảy ra. (Chứ) Người thọ 70 (thì) xưa nay hiếm. Bươm bướm vàng xúm xít vờn hoa. Chuồn chuồn đạp nước chấp chới bay. Vẫn nói rằng phong cách thường vốn đổi thay luôn. (Cho nên) Tạm thời cũng thưởng thức, chớ bỏ xa nhau với cảnh ấy.

Dịch thơ:

Áo bông gán nợ qua ngày
Quán ven sông, rượu khướt say mới rời.
Vẫn thường uống chịu đấy thôi.
Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi.
Bướm hoa xúm xít vờn chơi
Chuồn chuồn đạp nước, chấm rồi lại bay.
Cảnh tình thường dễ đổi thay
Thưởng Xuân, tạm níu cảnh này lại xem!

(Vũ Quốc Huệ dịch)

Câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” thực chất là một lời than của Đỗ Phủ về tuổi đời khó đạt tới, nên phải tranh thủ thưởng Xuân. Bác Hồ thừa nhận cái quy luật nghiệt ngã của tuổi tác mà Thi Thánh đã phát hiện, mình “đã là lớp người xưa nay hiếm”, và còn khẳng định đã vượt qua được giới hạn ấy mà “tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt”. Bác Hồ chỉ mượn cách nói của Đỗ Phủ, còn chiều hướng của tư duy thì khác hẳn, rất tích cực, hóm hỉnh. Đó là phong cách Bác. Đó cũng là lời động viên và muôn vàn tình thương yêu Bác để lại cho toàn dân tộc trước lúc Người đi xa.

Xuất xứ một bài thơ Tứ tuyệt nổi tiếng PHONG KIỀU DẠ BẠC của Trương Kế

 Trương Kế - nhà thơ thời Đường một đêm bơi thuyền trên sông đến gần chùa Hàn San ngẫu hứng, sinh tình làm được hai câu thơ:


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.



Đến đó thì nhà thơ “bí” không thể tìm ra hai câu nữa.
Trong khi đó ở chùa Hàn San có một vị sư già, đêm sư không ngủ được và cũng làm được hai câu thơ:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.


Nghĩa là:
Mồng ba mồng bốn trăng mờ
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời


Rồi thì sư cụ cũng “bí” giống như Trương Kế.
Chú tiểu thấy vậy mới hỏi: Bẩm sư phụ , vì sao ngài không được vui. Nhà sư mới cho chú tiểu biết về tâm sự đang “bí” thơ của mình.

Chú tiểu ra nhà sau, chợt nhìn thấy bóng trăng dưới hồ mà sáng tác được hai câu thơ. Chú trình lại với sư phụ. Đó là:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.


Nghĩa là:

Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không


Sư cụ vổ tay hoan hỉ, đúng là thiên tài, và bài thơ đã đầy đủ

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán cầm thủy để, bán phù không.


Lúc đó đã nửa đêm, sư bảo chú tiểu đánh chuông để tạ ơn đức Phật về sự hoàn thành bài thơ.

Tiếng chuông vọng đến thuyền của Trương Kế. Nhờ đó ông làm thêm hai câu thơ cuối của bài thơ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền .


Ngày nay nhiều người đã biết đến bài thơ Phong kiều Dạ bạc của Trương Kế:


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền .


Có rất nhiều bản dịch nhưng tôi tâm đắc nhất là bản dịch của Tản Đà. Dịch rằng:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.



Đó là bài thơ hay nổi tiếng – Thơ như có Phật, có Thần vậy.

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Dịch nghĩa :


Bến đêm Phong Kiều

Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời
Một bên là cây bờ sông và đèn câu, một bên là giấc ngủ buồn
Từ chùa Hàn San bên ngoài thành Cô Tô
Nửa đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách.

Dịch ra thơ Đường luật :


Hải Đà:

Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu Phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ...

Thu Tứ:

Trăng xế, quạ kêu, sương kín trời
Đèn lu, cây tối, ngủ buồn ơi
"Nửa đêm" chuông đánh, chùa đâu lạ
Tỉnh giấc ai ơi, sắp sáng rồi!


Dịch ra thơ lục bát

Trần Trọng Kim:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.
Con thuyền đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Nguyễn Hàm Ninh :

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Thu Tứ:

Quạ kêu trăng xế trời sương,
Đèn lu cây tối, chập chờn tỉnh mê.
Nửa đêm thức giấc nằm nghe,
Chùa đâu chuông đánh xa đưa tận thuyền.


Nguyễn Hàm Ninh dịch bài thơ của Trương Kế sang thể lục bát như sau: 
Trích dẫn :
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, 
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Bài thơ dịch này, trước đây người ta đã nhầm là của Tản Đà, được kể là hay, chỉ tiếc là ông đã bỏ mất chữ giang phong và đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San nhưng nó vẫn được kể là bài dịch hay nhất từ trước đến nay.