Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

Chúng Ta Không Được Phép Lãng Quên

  

The whole country had 1,146,250 heroes and martyrs sacrificed, of which 191,605 martyrs died in the resistance war against the French; 849,018 Martyrs died in the resistance war against the US; 105,627 Martyrs sacrificed in wars to defend the Fatherland. More than 200,000 remains of Martyrs have not been found, their bodies are still lying on the battlefields of Vietnam, Laos, Cambodia, the East Sea… More than 300,000 remains of Martyrs have been gathered in cemeteries but have not been identified be identified with names, hometowns, and units. In addition, during the resistance wars against France, the United States, and the war to protect the Fatherland, more than 4 million civilians in the North and South regions died and suffered lifelong injuries from bombs and bullets, killed by the enemy.




Contributing to the revolutionary cause, the whole country has over 9,000,000 people with meritorious services; 127,000 Vietnamese heroic mothers whose husbands and children died in the wars to protect the Fatherland; over 13,000 Heroes of the People's Armed Forces and Heroes of Labor; nearly 800,000 war invalids and beneficiaries of policies like war invalids; more than 300,000 resistance activists and their children were infected with Agent Orange; nearly 111,000 revolutionary activists and resistance participants were imprisoned, imprisoned and tortured by the enemy in prisons of Hoa Lo, Son La, Lao Bao, Con Dao, and Phu Quoc.




We are eternally grateful to the generations of his father who sacrificed heroically to make the country unified, independent and free as it is today.


Jurist. Hoang Quoc Huy



Cả nước đã có 1.146.250 anh hùng, liệt sĩ hy sinh trong đó 191.605 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp; 849.018 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; 105.627 Liệt sỹ hy sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia, Biển Đông… Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị. Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở hai miền Bắc – Nam đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại.


Đóng góp vào sự nghiệp cách mạng, cả nước có trên 9.000.000 người có công; 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trên 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động; gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh; hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam; gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…


Chúng ta đời đời biết ơn các thế hệ cha anh đã hy sinh anh dũng để đất nước thống nhất, độc lập, tự do như ngày hôm nay.

Luật gia. Hoàng Quốc Huy

Võ thấu lòng dân Võ hóa Văn"

  MỘT CÂU ĐỐI - MỘT ĐỜI NGƯỜI !


"Văn lo việc nước Văn thành Võ 

Võ thấu lòng dân Võ hóa Văn"

Hồ Cơ 



Chỉ vẻn vẹn với 14 chữ thôi 

Đã tạo nên bức tranh siêu toàn mỹ 

Một con người, khắc tạc vào thế kỷ 

Vị tướng hiền tài tên tuổi mãi lưu danh


Cả dân tộc cả thế giới nghiêng mình 

Văn ở người là đỉnh cao trí tuệ 

Là kiến thức uyên thâm người đời kính nể 

Là văn hóa quyện hòa của nòi giống Tiên rồng 


Là chất sử thi thấm đẫm máu cha ông

Là lắng nghe tiếng nói từ ngàn xưa vọng lại 

Như hịch truyền như tiếng khèn ngân vang mãi 

Là biết đau nỗi đau một dân tộc lầm than 


Là chứng kiến sự hy sinh, nước mắt chảy tuôn tràn 

Võ là lấy võ nghiệp Người thực hành triết lý 

Tính nhân văn sáng bừng trong ý nghĩ

Là chân lý theo ông trong suốt cuộc hành trình 


Là vị tướng tài ứng đối phân minh 

Đỏ rực trong tim câu: "Dĩ công, vi thượng"

Trên đỉnh cao vinh quang nhưng không màng sung sướng 

Bởi bao thăng trầm cay đắng nghiệp cầm quân


Mỗi chiến công ông lại khóc âm thầm

Đau đớn tận cùng triệu người con ngã xuống 

Để non sông này mãi trường tồn đứng vững

Tổ Quốc này  giá trả quá  lớn lao!


Trái tim ông luôn thấm chữ: "Đồng bào"

Trọn cuộc đời sống không màng danh lợi

Rất giản dị thật khiêm nhường sớm tối

Sáng mãi tên Người vị tướng giữa lòng dân


Đức khiêm tốn và hành xử nhân văn

Mãi theo Người đến những giây phút cuối

Người lên đường theo Tổ Tiên vẫy gọi

Theo người thầy - Vị lãnh tụ kính yêu


Sau Hồ Chí Minh càng thấu tỏ một điều 

Võ Nguyên Giáp là tài sản tinh thần vô giá 

Là danh xưng của Việt nam với bạn bè Quốc tế 

Người là:"Hoa đất" đẹp lung linh


Là ngôi sao chiếu rực rỡ nước mình 

Sự ra đi của ông là mở đầu cái mới

Về giá trị nhân văn, về niềm tin sáng chói

Xin thắp nén nhang lòng nhớ  vị tướng tài ba


Nhắc đến ông dòng lệ ứa nhạt nhòa

Bậc hiền tài sống, "Dĩ công, vi thượng"

"Trăm tuổi lừng danh Văn Đại tướng

Nghìn thu vang tiếng Võ Anh hùng"


NTT

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

XUẤT XỨ CÂU "NHÂN SINH THẤT THẬP CỔ LAI HY"

Trong bản Di chúc, Bác trích câu thơ này để nói vui về tuổi thọ, có xuất xứ từ một bài thơ của Đỗ Phủ, là câu thơ thứ tư trong thủ thứ hai của bài “Khúc Giang-Nhị thủ”, nguyên văn như sau:
Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xử hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến
Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương thưởng mạc tương vi

(Trích “Đường thi tinh phẩm giám thưởng từ điển”)

Dịch nghĩa:
Đi chầu về, ngày nào cũng đem áo rét mùa Xuân đi cầm cố. Mỗi ngày ở (quán) ven sông say khướt mới ra về. Nợ tiền rượu là chuyện bình thường vẫn xảy ra. (Chứ) Người thọ 70 (thì) xưa nay hiếm. Bươm bướm vàng xúm xít vờn hoa. Chuồn chuồn đạp nước chấp chới bay. Vẫn nói rằng phong cách thường vốn đổi thay luôn. (Cho nên) Tạm thời cũng thưởng thức, chớ bỏ xa nhau với cảnh ấy.

Dịch thơ:

Áo bông gán nợ qua ngày
Quán ven sông, rượu khướt say mới rời.
Vẫn thường uống chịu đấy thôi.
Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi.
Bướm hoa xúm xít vờn chơi
Chuồn chuồn đạp nước, chấm rồi lại bay.
Cảnh tình thường dễ đổi thay
Thưởng Xuân, tạm níu cảnh này lại xem!

(Vũ Quốc Huệ dịch)

Câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” thực chất là một lời than của Đỗ Phủ về tuổi đời khó đạt tới, nên phải tranh thủ thưởng Xuân. Bác Hồ thừa nhận cái quy luật nghiệt ngã của tuổi tác mà Thi Thánh đã phát hiện, mình “đã là lớp người xưa nay hiếm”, và còn khẳng định đã vượt qua được giới hạn ấy mà “tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt”. Bác Hồ chỉ mượn cách nói của Đỗ Phủ, còn chiều hướng của tư duy thì khác hẳn, rất tích cực, hóm hỉnh. Đó là phong cách Bác. Đó cũng là lời động viên và muôn vàn tình thương yêu Bác để lại cho toàn dân tộc trước lúc Người đi xa.

Xuất xứ một bài thơ Tứ tuyệt nổi tiếng PHONG KIỀU DẠ BẠC của Trương Kế

 Trương Kế - nhà thơ thời Đường một đêm bơi thuyền trên sông đến gần chùa Hàn San ngẫu hứng, sinh tình làm được hai câu thơ:


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.



Đến đó thì nhà thơ “bí” không thể tìm ra hai câu nữa.
Trong khi đó ở chùa Hàn San có một vị sư già, đêm sư không ngủ được và cũng làm được hai câu thơ:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.


Nghĩa là:
Mồng ba mồng bốn trăng mờ
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời


Rồi thì sư cụ cũng “bí” giống như Trương Kế.
Chú tiểu thấy vậy mới hỏi: Bẩm sư phụ , vì sao ngài không được vui. Nhà sư mới cho chú tiểu biết về tâm sự đang “bí” thơ của mình.

Chú tiểu ra nhà sau, chợt nhìn thấy bóng trăng dưới hồ mà sáng tác được hai câu thơ. Chú trình lại với sư phụ. Đó là:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.


Nghĩa là:

Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không


Sư cụ vổ tay hoan hỉ, đúng là thiên tài, và bài thơ đã đầy đủ

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán cầm thủy để, bán phù không.


Lúc đó đã nửa đêm, sư bảo chú tiểu đánh chuông để tạ ơn đức Phật về sự hoàn thành bài thơ.

Tiếng chuông vọng đến thuyền của Trương Kế. Nhờ đó ông làm thêm hai câu thơ cuối của bài thơ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền .


Ngày nay nhiều người đã biết đến bài thơ Phong kiều Dạ bạc của Trương Kế:


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền .


Có rất nhiều bản dịch nhưng tôi tâm đắc nhất là bản dịch của Tản Đà. Dịch rằng:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.



Đó là bài thơ hay nổi tiếng – Thơ như có Phật, có Thần vậy.

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Dịch nghĩa :


Bến đêm Phong Kiều

Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời
Một bên là cây bờ sông và đèn câu, một bên là giấc ngủ buồn
Từ chùa Hàn San bên ngoài thành Cô Tô
Nửa đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách.

Dịch ra thơ Đường luật :


Hải Đà:

Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu Phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ...

Thu Tứ:

Trăng xế, quạ kêu, sương kín trời
Đèn lu, cây tối, ngủ buồn ơi
"Nửa đêm" chuông đánh, chùa đâu lạ
Tỉnh giấc ai ơi, sắp sáng rồi!


Dịch ra thơ lục bát

Trần Trọng Kim:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.
Con thuyền đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Nguyễn Hàm Ninh :

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Thu Tứ:

Quạ kêu trăng xế trời sương,
Đèn lu cây tối, chập chờn tỉnh mê.
Nửa đêm thức giấc nằm nghe,
Chùa đâu chuông đánh xa đưa tận thuyền.


Nguyễn Hàm Ninh dịch bài thơ của Trương Kế sang thể lục bát như sau: 
Trích dẫn :
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, 
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Bài thơ dịch này, trước đây người ta đã nhầm là của Tản Đà, được kể là hay, chỉ tiếc là ông đã bỏ mất chữ giang phong và đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San nhưng nó vẫn được kể là bài dịch hay nhất từ trước đến nay. 

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Vắc xin và vấn đề tiêm chủng vắc xin trong lịch sử Việt Nam

 Lịch sử dịch tễ học Việt Nam không cho biết rõ người Việt bắt đầu biết đến vắc xin và tiếp cận với tiêm chủng vắc xin từ khi nào. Khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử kể cả nguồn tư liệu trong nước và tư liệu do người nước ngoài viết về Việt Nam giai đoạn từ nửa đầu thế kỷ 19 trở về trước, hầu như rất ít nhắc đến vấn đề vắc xin và tiêm chủng vắc xin.

1. Vắc xin vũ khí hữu hiệu chống dịch bệnh
Theo kiến thức y khoa, vắc xin (vaccine) là loại chế phẩm sinh học cung cấp khả năng miễn dịch chủ động đối với một số bệnh truyền nhiễm thông qua việc kích thích sự bảo vệ tự nhiên của cơ thể. Vắc-xin giúp hệ miễn dịch của con người tấn công các tác nhân gây bệnh hiệu quả hơn bằng cách chuẩn bị sẵn sàng cho hệ miễn dịch ứng phó với một số loại bệnh. Từ đó nếu vi-rút hoặc vi khuẩn tấn công cơ thể, hệ miễn dịch sẽ nhận diện và tìm cách chống lại.
Việc đưa vắc xin vào cơ thể người được gọi là tiêm chủng, tiêm vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng chống các bệnh truyền nhiễm. Trong một số đại dịch truyền nhiễm từng xảy ra trên thế giới, vắc xin đã trở thành vũ khí hữu hiệu để cứu nhân loại.
Cho đến nay lịch sử y học thế giới ghi nhận người đầu tiên đặt nền móng cho tiêm chủng vắc xin là Edward Jenner, một bác sĩ kiêm thành viên danh dự của Hiệp hội Hoàng gia London (Anh). Từ cuối thế kỷ 18 ông đã thành công với việc lấy chất liệu virus từ các ca bệnh đậu mùa của bò để tiêm cho người, tạo ra hệ miễn dịch chống lại bệnh đậu mùa ở người. Mặc dù Jenner không phải là người đầu tiên khám phá ra phương thức hoạt động của vắc xin nhưng ông là người đặt nền móng cho lĩnh vực miễn dịch học và dập tắt dịch bệnh đậu mùa, một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất từng xảy ra trong lịch sử.
Vắc xin và vấn đề tiêm chủng vắc xin trong lịch sử Việt Nam 1  


Tranh minh họa bác sĩ Edward Jenner đang tiêm chủng đậu mùa cho một bệnh nhân nhi. Nguồn: Sưu tầm
[size]
Đến hết thế kỷ 19 con người đã chế ra 5 loại vắc xin chống lại các căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: đậu mùa, thương hàn, dịch hạch, dịch tả và bệnh dại. Sang thế kỷ 20 hàng loạt bệnh truyền nhiễm gây chết người nhất là đối với trẻ em đã được khống chế bởi vắc xin như: sởi, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, lao… Cho đến nay Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố danh sách 26 căn bệnh có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng vắc xin.
Mới đây nhất vắc xin phòng bệnh Covid-19, một loại bệnh do coronavirus gây ra với hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng đã được nhiều quốc gia và các liên minh y dược trên thế giới nghiên cứu phát triển ở nhiều giai đoạn và trên nhiều nền tảng công nghệ khác nhau. Vắc xin phòng Covid-19 đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm sự lây lan, mức độ nghiêm trọng và tử vong do chúng gây ra. Theo công bố của WHO tính đến tháng 7 năm 2021 đã có 20 loại vắc xin được cấp phép sử dụng rộng rãi để phòng ngừa căn bệnh này trên toàn thế giới.
2. Vắc xin được sử dụng tại Việt Nam từ khi nào?
Lịch sử dịch tễ học Việt Nam không cho biết rõ người Việt bắt đầu biết đến vắc xin và tiếp cận với tiêm chủng vắc xin từ khi nào. Khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử kể cả nguồn tư liệu trong nước và tư liệu do người nước ngoài viết về Việt Nam giai đoạn từ nửa đầu thế kỷ 19 trở về trước, hầu như rất ít nhắc đến vấn đề vắc xin và tiêm chủng vắc xin. Các tư liệu giai đoạn sau đã có nhiều ghi chép về việc sử dụng vắc xin phòng ngừa bệnh tại Việt Nam như đậu mùa, dịch hạch, bệnh dại[1] 
Việc đưa vắc xin vào sử dụng và thực hiện tiêm chủng rộng rãi tại Việt Nam xuất phát từ các bác sĩ phương Tây, đặc biệt là người Pháp. Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới giai đoạn từ thế kỷ 19 trở về trước hầu như phải đối mặt với căn bệnh đậu mùa hoành hành và con số người chết hàng năm đều rất lớn. Không ai có thể quên câu chuyện đau lòng trong lịch sử đó là cái chết của Hoàng tử Cảnh con trưởng của vua Gia Long khi mới 21 tuổi cũng bởi căn bệnh quái ác này. Có lẽ thời điểm đó Việt Nam chưa biết đến loại vắc xin phòng bệnh đậu mùa. Ngay cả vua Tự Đức thời niên thiếu cũng đã mắc bệnh đậu mùa và di chứng là việc ông không thể có con nối dõi. Một số tư liệu lịch sử cho rằng vua Tự Đức giữ được mạng sống là bởi ông đã được chủng ngừa vắc xin đậu mùa.
Vậy việc tiêm chủng vắc xin tại Việt Nam bắt đầu từ khi nào? Cho đến nay các nghiên cứu đều khẳng định vắc xin lần đầu tiên được sử dụng để tiêm chủng rộng rãi tại Việt Nam là dưới thời vua Minh Mạng (1820-1840) và căn bệnh được chữa trị đầu tiên là bệnh đậu mùa. Theo các nghiên cứu, năm 1820 vua Minh Mạng đã cử bác sĩ hải quân Jean Marie Despiau,  một thành viên trong đội Ngự y của triều đình đến Ma Cao để tìm kiếm thuốc chữa bệnh đậu mùa cho người dân. Vào thời đó chưa có phương tiện để bảo quản vắc xin nên phải dùng phương pháp truyền từ người sang người. Vì vậy Despiau đã mang theo những đứa trẻ cấy vi rút vào cánh tay chúng, đợi phát bệnh nổi đậu ngoài da đem mủ cấy qua người khác và cứ tiếp tục như vậy. Đầu năm 1821 Despiau đã về tới Huế và bắt đầu chủng ngừa cho các con của Minh Mạng[2] .

[/size]
 Vắc xin và vấn đề tiêm chủng vắc xin trong lịch sử Việt Nam 2

Người dân bản xứ xếp hàng tại đình làng Hanh Thông (Gò Vấp-Sài Gòn) để tiêm vắc xin đậu mùa
[size]
Sau đó việc chủng ngừa rộng rãi tại Việt Nam đã dần được thực hiện. Một bản Tấu của Viện Cơ mật thời vua Thành Thái trong Châu bản triều Nguyễn cho biết: Một vị bác sĩ cao cấp người Pháp đã đề nghị Tòa Khâm sứ nên khen thưởng cho hai thày thuốc người Việt Nam là Nguyễn Ức và Phan Văn Kiện vì đã đã đi khắp vùng trực kỳ để chủng đậu cho người dân. Theo ông này thì từ năm 1895 đến năm 1898 dương lịch hai thày thuốc người Việt đã thực hiện chủng đậu cho tất cả 9803 người. Viện Cơ mật đã xem xét tuân theo phê chuẩn của vua Thành Thái ban thưởng cho các viên này hàm Tòng cửu phẩm, để tỏ rõ sự khuyến khích[3] .
Trong một Châu bản khác dưới thời vua Tự Đức cho thấy triều đình đã nhiều lần cử người đi học về chủng đậu và sau khi học xong đều phải làm báo cáo trình lên nhà vua. Người đi học được cấp tiền, lương bổng, sau một thời gian hành nghề sẽ được ban thưởng phẩm hàm xếp vào ngạch quan.
Tuy nhiên việc chủng đậu không phải địa phương nào cũng làm tốt và hậu quả của việc này là trong trận đại dịch năm 1888 dưới thời vua Đồng Khánh, hai huyện Mộ Đức và Bình Sơn thuộc phủ Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi bị dịch đậu mùa chết đến 13.934 người. Quan tỉnh ấy vội tư trình lên Viện Cơ mật đề nghị nhờ Khâm sứ Pháp cử bác sĩ đến chủng đậu. Viện Cơ mật cho rằng quan tỉnh ấy lơ là vô trách nhiệm để dịch xảy ra đến 9 tháng mới báo cáo, vì vậy đã truyền chỉ trách phạt[4] .
[/size]
Vắc xin và vấn đề tiêm chủng vắc xin trong lịch sử Việt Nam 3  


Tiêm chủng cho trẻ em tại Rạch Giá - Kiên Giang
[size]
Dưới triều Nguyễn khá nhiều thầy thuốc đã được khen thưởng vì tích cực chủng đậu cho người dân như trường hợp lương y Trần Văn Tạo ở Phú Yên trong 3 năm đã chủng đậu cho hơn 3000 người và được vua Thành Thái khen thưởng xét bổ hàm Tòng cửu phẩm, Bùi Quang Phương với việc chủng đậu đắc lực đã được thưởng hàm Tòng bát phẩm…
Tài liệu phông Nha Kinh lược Bắc kỳ và Nha huyện Thọ Xương của Hà Nội cũng cho thấy giai đoạn cuối thế kỷ 19 hàng loạt tờ trát sức của Kinh lược sứ và Tri huyện Thọ Xương gửi xuống các địa phương đốc thúc các xã thôn đưa trẻ em đi tiêm chủng đậu. Thậm chí quan lại các địa phương phải chịu trách nhiệm nếu dân không chủng ngừa đầy đủ và để xảy ra dịch bệnh sẽ phải trị tội rất nặng.
[/size]
Vắc xin và vấn đề tiêm chủng vắc xin trong lịch sử Việt Nam 4  


Tiêm chủng cho trẻ sơ sinh tại Hà Nội đầu thế kỷ 20
[size]
Có thể nói vắc xin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ngăn ngừa các dịch bệnh truyền nhiễm. Trong lịch sử thế giới vắc xin và tiêm chủng vắc xin được được sử dụng từ khá sớm, thậm chí thế kỷ 18 việc chủng ngừa rộng rãi đã được thực hiện ở Châu Âu. Tuy nhiên tại Việt Nam phải đến nửa đầu thế kỷ 19 vắc xin mới được biết đến và dần được sử dụng. Tuy nhiên từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Việt Nam đã ngày càng tiệm cận với thế giới trong các hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe người dân. Vì vậy các dịch bệnh nói chung hầu hết đã được ngăn chặn và khống chế./.
Nguồn tài liệu tham khảo:
1. Website của UNICEF và WHO.
2. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.
3. Nguồn ảnh: anhxua.vn

[/size]

[size]

[1] Việc nghiên cứu và phát triển vắc xin phòng bệnh dịch hạch và bệnh dại tại Việt Nam gắn với tên tuổi hai nhà khoa học nổi tiếng người Pháp là Alexandre Yersin và Louis Pasteur.
[2]  Theo Gaide, Y học châu Âu tại An Nam xưa và nay, BAVH 8/1921 và C. Michele Thompson, Vietnamese Traditional Medicine: A Social History, 2015. Tuy nhiên các nguồn sử liệu chính thống của Việt Nam như Châu bản triều Nguyễn hay Thực lục đều không tìm thấy các ghi chép về sự kiện này.
[3] Châu bản triều Thành Thái, tập 37/163.
[4]  Châu bản triều Đồng Khánh, tập 5/340.[/size]

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?

Khu vực phát hiện bạch xà là vùng đệm thuộc rừng quốc gia Cúc Phương, cây cối um tùm. Hơn nữa, ngôi đền lại nằm ở lưng chừng núi, xung quanh nhiều hang đá nên trăn rắn cũng đã không ít lần xuất hiện. Tuy nhiên, một con bạch xà kích cỡ khủng như vậy thì mới là lần đầu người dân nơi đây được tận mắt chứng kiến. 

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thuộc hàng hạ ban có Quan Ngũ Hổ và Quan Xà Thần là hai linh vật được nhân dân tôn kính, thờ phụng trong hệ thống Tứ phủ. Việc con bạch xà xuất hiện ở chốn linh thiêng càng khiến câu chuyện thêm nhuốm màu tâm linh.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-1Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-2

Hình ảnh "bạch xà" xuất hiện trong clip được chia sẻ.

Quan Xà Thần, còn được gọi là Ông Lốt hoặc Thanh Xà - Bạch Xà. Đây là 2 thần rắn đứng hàng cuối trong Tứ phủ, thường được bài trí trong điện thờ theo kiểu đặt dưới gầm ban Công Đồng, vắt ngang phía trên ban Công Đồng hoặc vắt trên xà nhà của điện thờ Tứ phủ. Cách bài trí này cũng được bắt gặp ở những đình chùa, miếu mạo có thờ thần linh Tứ phủ.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-3Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-4Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-5

Hình ảnh minh họa cách bài trí Thanh Xà Bạch Xà

Theo thần tích, nhị vị xà thần màu xanh lá và màu trắng, có danh xưng là Thanh Xà Đại Tướng Quân và Bạch Xà Đại Tướng Quân. Quan Xà Thần phụng sự Thánh Mẫu và ban Công đồng, chịu trách nhiệm canh gác đền phủ, trấn giữ đường âm, đường sông nước và trừ ma diệt quỷ. Bởi vậy, việc một "Bạch Quan Xà Thần" xuất hiện trước cửa đền Cô Đôi Thượng Ngàn khiến nhiều người trầm trồ, thậm chí cho rằng có thể "quan đang trên đường đi tuần"...

Cô Đôi Thượng Ngàn là ai?

Cô Đôi Thượng Ngàn là một nhân vật trong Đạo Mẫu Việt Nam. Được thờ ở nhiều di tích đền và phủ ở phía Bắc và xuất hiện nhiều trong những câu hát văn nổi tiếng. Gọi là Cô Đôi Thượng Ngàn vì do Cô đứng hàng thứ hai trong hệ thống thập nhị tiên nàng của Đạo Mẫu. 

Trong Đạo Mẫu, Cô là người có công cứu giúp muôn dân, chỉ dạy người dân tộc tiếng nói để giao lưu với nhau. Tiếng tăm anh linh lừng lẫy khắp bốn phương, nhiều nơi đều có đền thờ Cô. Nổi tiếng nhất là hai ngôi đền thờ tại địa giới huyện Nho Quan, Ninh Bình gắn với truyền thuyết CÔ GIÁNG SINH và đền thờ tại huyện Cao Phong, Hòa Bình với truyền thuyết CÔ HÓA. Tức là nơi ra đời, và nơi từ biệt cõi tạm.

Trước khi giáng trần, tương truyền, Cô Đôi Thượng Ngàn xuất thân là con gái của Đế Thích - một vị vua chốn Thiên Cung, tự là Sơn Tinh công chúa. Khi còn ở thiên đình, cô là người hầu cận cho Vương Mẫu tại ngọc điện.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-6
Tượng thờ Cô Đôi Thượng Ngàn.

Quay lại chuyện hạ giới, tại phủ Nho Quan thuở ấy, có một vị quan lang người Mường họ Hà. Ông là người nhân đức, tâm lành của ông nức tiếng gần xa vì luôn cứu giúp dân nghèo. Sống đức hạnh là vậy, nhưng vợ chồng ông đã vào trạc ngũ tuần mà chưa có nổi một mụn con. Không từ bỏ, vợ chồng ông lập đàn tế, phát tâm gửi vào trời xanh mong được như ý nguyện. 

Lời khẩn cầu ấy lay động tới Ngọc Hoàng. Người sai Sơn Tinh công chúa hạ phàm, đầu thai làm con của vợ chồng quan lang Hà, coi như thưởng cho tiết tháo, đức hạnh, tấm lòng thơm thảo của vợ chồng ông.

Bẩm thụ thiên khí, mười hai tháng sau, vợ quan lang Hà có thai, rồi hạ sinh được một cô con gái. Khi con gái chào đời, chim kéo đến trước nhà hót mãi không thôi như vui mừng đấng tiên nữ giáng sinh phàm trần. 

Đến năm con gái lên bốn tuổi, cả gia đình quan lang họ Hà chuyển tới Mường Thàng nhậm chức. Mường Thàng ngày ấy thuộc vùng cao, thiếu thốn nước sinh hoạt. Dưới chân núi Đầu Rồng có một con suối thần, nước cứ chảy miết, trong mát quanh năm. Dân làng thường ra suối gánh nước về dùng, cô con gái cũng thường ra gánh nước phụ giúp cha mẹ.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cô đã bước sang tuổi 12. Ở cái tuổi ấy, cô trổ mã xinh đẹp tuyệt trần, da trắng, tóc mượt, mặt tròn, dáng người thon thả. Một hôm, cô đi gánh nước, gặp một bà lão bệnh tật, bẩn thỉu, đói khát nằm lả ở gốc cây đa dưới chân núi Rồng. 

Bà cụ đau đớn kêu rên từng hồi, nhưng chẳng một ai chịu giúp đỡ bà. Cô liền động lòng thương, quỳ xuống, đỡ bà cụ ngồi dậy, cho bà uống nước. Bỗng từ đâu, mây đen kéo đến, trời đất tối xầm, gió bụi ầm ầm không thôi. 

Bà cụ đói rách, ốm yếu bỗng hiện thành Tiên Chúa Thượng Ngàn, tự xưng là Cao Sơn Thánh Nàng (tức Chúa Bà Thượng Ngàn Diệu Tín Thiền Sư Chúa Mường ), chuyên cai quản các vùng rừng núi, nói với cô rằng: "Ta là Đức Mẫu Thượng Ngàn, thấy con là người hiền lành, đức độ lại có lòng thương với chúng sinh. Kiếp trước con là tiên nữ, nghe lệnh Ngọc Hoàng mà hạ phàm báo ân cha mẹ. Nay ta độ con thành tiên trở về hầu cận bên cạnh ta, học phép mà cứu giúp nhân gian." Nói đoạn, Đức Mẫu rút một cây gậy khắc đầu rồng bên mình, trao cho cô. Cô nhận gậy trở về nhà, bốn ngày sau thì cô hóa.

Sau khi cô hóa về với Thánh Mẫu Thượng Ngàn, cô chịu khó học phép cứu dân. Cô thường dong ruổi khắp các miền sơn cước, đôi khi hiển linh dạy cho đồng bào dân tộc tiếng nói để họ giao tiếp với nhau. Cũng có khi thanh nhàn, cô thường ngự về chốn sơn lâm đất Ninh Bình quê nhà. Ở nơi ấy, cô cùng các bạn tiên ca hát, ngâm thơ, thưởng cảnh tháng ngày trên dốc Sườn Bò.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-7
Tượng thờ Cô Đôi Thượng Ngàn tại đền Bồng Lai (Nho Quan, Ninh Bình).

Tương truyền cô giỏi thơ văn, nên biết bao kẻ sĩ mến phục, ngưỡng mộ Cô. Cô Đôi Thượng Ngàn cũng là người cai quản kho lộc núi rừng, người đời gửi gắm tâm thành, phụng thờ cô cũng sẽ được ban tài lộc. Tuy nhiên, vô phép vô thiên, có nợ không trả sẽ bị Cô quở và bắt đền nặng hơn.

Khắp mười tám cửa rừng, tiếng tăm Cô trải dài. Nhiều người biết đến, kính cẩn, thờ phụng Cô. Trong đại lễ tưởng nhớ, người ta thường mặc áo cánh xanh, quần đen, đầu vấn khăn vành dây kết hoa để chứng lễ. 

Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ

Có câu thơ rằng: 

"Non sông nào phải cao sâu,

Có rồng tiên ngự thì đâu cũng thần."

Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ ý chỉ 2 ngôi đền bao gồm Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ (đền Bồng Lai Nho Quan) và Đền Thượng Bồng Lai Cao Phong (đền Bồng Lai Cao Phong Hòa Bình).

Là vùng sơn cước hẻo lánh, nhưng là nơi Cô Đôi Thượng Ngàn giáng sinh và hóa kiếp nên để tưởng nhớ công ơn của cô, người đời lập đền Bồng Lai ở huyện Nho Quan, Ninh Bình thờ nơi cô giáng sinh phàm trần. Còn ở Mường Thàng (huyện Cao Phong, Hòa Bình hiện nay), người dân lập đền thờ Cô trong động Thiên Thai, dưới chân núi Đầu Rồng. Đó là nơi cô có cơ duyên hội ngộ Thánh Mẫu Thượng Ngàn và cũng là nơi cô hóa.

Đền Thượng Bồng Lai Nho Quan -  Ninh Bình

Đền Bồng Lai thứ nhất tọa lạc tại thôn Bồng Lai, xã Văn Phương, huyện Nho Quan, Ninh Bình. Nơi đây gắn liền với sự tích giáng sinh của Cô. Ngôi đền tại đây có tên cổ là Đền Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ. Đây chính là ngôi đền vừa có bạch xà xuất hiện vào ngày 11/3 vừa qua.

Đền Bồng Lai được xây dựng từ thời Trần, trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời gian. Xưa kia, đền Bồng Lai nhỏ nhưng khang trang. Sau giải phóng, chịu ảnh hưởng của phong trào chống mê tín dị đoan khi đó, đền bị phá bỏ. Chỉ còn lại phế tích là một lư hương và một sắc phong của vua Khải Định. Những đồ tế tự khác đều bị đốt bỏ hoặc thất lạc.

Dân chúng bí mật dựng lên một ngôi miếu nhỏ để tiếp tục phát tâm thờ phụng Cô Đôi Thượng Ngàn. Một lần nữa, dường như duyên chưa tới, ngôi đền lại bị phá bỏ. Phải đến năm 2006, dân làng Bồng Lai mời người về chủ trì tôn tạo, đền mới được như hiện nay. Đến năm 2015, cổng Tam quan mới được xây dựng. 

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-8


Bí tích dân gian thì nhiều, trải qua "bia miệng" cũng thêm thắt nhiều chi tiết kỳ lạ. Tuy nhiên, những câu chuyện bí ẩn mang màu sắc tâm linh tại ngôi đền Bồng Lai này đều bắt nguồn từ những câu chuyện dân gian, truyền miệng nhiều đời nay. Người dân địa phương, không ai là không biết. 

Nổi bật trong đó là câu chuyện dưới đây.

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi ngôi đền bị phá, có một gia đình đông con. Nhà ấy có 11 người con, duy chỉ có người con út là con trai. Có thể nhiều người không biết, ở nhiều vùng quê, cây duối thường được trồng trước cổng đền chùa, miếu mạo. Người ta cho rằng, đây là nơi ở của Thần Xà. Cậu con út vô tình chặt một cây duối cổ phía sau ngôi đền về làm củi đun. Nhưng chưa kịp mang củi về nhà, cậu bé lăn ra trúng gió, khi ấy cậu 4 tuổi. 

Người nhà vội vàng đưa cậu đi cứu chữa, nhưng không kịp. Về sau người nhà thường xuyên đến đền lễ Cô như một sự ăn năn, hối lỗi muộn màng. Chẳng biết đó có phải sự trách phạt của Cô hay đó là chuyện tình cờ, nhưng bố mẹ của cậu con trai đã mất đến tuổi 90 vẫn khỏe mạnh. Những người con còn lại thì ăn nên làm ra. 

Người ta truyền tai nhau rằng, có lỗi thì Cô quở, nhưng biết chuyển tâm hồi dạ thì Cô thương.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-9


Cũng theo các cụ cao niên kể lại, hồi đền bị dỡ bỏ, nhiều người liền tới lấy gạch ngói về nhà dùng, sau đó bị "Cô quở". Phàm những ai đã lấy đồ ở đền, gia đình không lục đục thì cũng có người mang bệnh tật hoặc gặp tai ương...

Rồi lại thêm chuyện ngôi miếu - được dựng bằng cỏ gianh để thờ tạm khi đền bị phá bỏ. Có người đến đốt nhưng không cháy nổi, dù cỏ gianh dễ bén lửa đến vậy. Sau vì mở rộng đất canh tác, hợp tác xã mang cả xe đến ủi miếu nhưng cứ đến gần là chết máy, cuối cùng đành bỏ cuộc. 

Tất nhiên, đúng sai đến đâu còn do miệng đời, lời dân gian. Người thì bảo là trùng hợp ngẫu nhiên, kẻ lại tin là Cô ngăn cản. Nhưng dù có thế nào đi nữa thì vẫn có một sự thật không thể chối cãi, đó là ngôi miếu vẫn không bị phá bỏ dù trải qua bao thăng trầm, đổi thay.

Về sau, miếu được dân làng cải tạo lại, đồng thời mời một thầy có tâm đức về làm thủ nhang, lo liệu chuyện thờ phụng.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-10Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-11Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-12


Lúc bấy giờ giữa dân làng xảy ra tranh cãi gay gắt, bởi thầy thủ nhang được mời về không phải người địa phương. Nhiều người đứng lên phản đối kịch liệt, trong đó có một cụ ông. Người mà ngay đêm hôm đó sau khi đi họp làng về, người dân kể lại cụ ra vườn không may đưa chân vào dây điện bẫy chuột mà bị giật, qua đời đột ngột. 

Đây cũng có thể chỉ là chuyện ngẫu nhiên, nhưng những người vốn tin vào sự linh thiêng của Cô Đôi Thượng Ngàn lại có suy nghĩ khác.

Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ tuy nhỏ nhưng linh thiêng, không hào nhoáng tráng lệ nhưng ấm cúng và tràn đầy năng lượng tâm linh trong lành. Đền nằm cạnh một cánh đồng bát ngát, tựa lưng vào dãy núi trùng trùng điệp điệp. Nơi này được cụ Tả Oai - một nhà phong thủy lỗi lạc đánh giá là địa linh. Cùng với 3 đền chùa khác quanh vùng tạo nên Hoa Lư Tứ Trấn - bao bọc cho mảnh đất cố đô linh thiêng.

Đền Thượng Bồng Lai Cao Phong

Vùng đất cổ Mường Thàng xưa kia cũng được coi là nơi giàu địa khí. Từ nhiều đời, người Mường truyền tụng câu nói "Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động". Câu này ý nói về 4 vùng Mường xưa kia của Hưng Hóa. Mường Bi nay là huyện Tân Lạc, Mường Vang nay là huyện Lạc Sơn, Mường Thàng nay là huyện Cao Phong, Mường Động nay là huyện Kim Bôi. 

Vùng Mường Thàng trong thần tích là nơi Cô Đôi Thượng Ngàn theo cha mẹ đến sinh sống khi còn là con gái của quan lang họ Hà. Là một trong bốn mường lớn, trù phú bậc nhất Hòa Bình, nơi đây cũng tọa lạc ngôi đền thiêng thờ phụng Cô Đôi Thượng Ngàn. 

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-13Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-14Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-15

Đền Thượng Bồng Lai tọa lạc dưới chân núi Đầu Rồng, thuộc thị trấn Cao Phong, Hòa Bình. Ngôi đền được xây dựng khá sớm, vào năm 1890 và được tu bổ khang trang, đẹp đẽ vào năm 2013. Một vùng rộng lớn khoảng 5000m2, dưới núi rừng Tây Bắc, đền Bồng Lai đích thực là nơi tiên cảnh, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đông đảo du khách thập phương.

Nơi đây cũng lưu giữ một vài cổ vật có giá trị như hai sắc phong các đời vua và chiếc chuông cổ từ đời vua Thành Thái (1889 - 1907). Tựa sơn hướng thủy, không gian trong lành, mát lạnh như thể chốn thiên thai khiến nơi đây tràn ngập năng lượng huyền ảo, màu nhiệm.

Nằm trong quần thể thắng cảnh tại núi Đầu Rồng, đền Bồng Lai đã phát huy mạnh mẽ giá trị là không gian tâm linh cho những người đến dâng hương bái phụng Cô Đôi Thượng Ngàn. Nếu mảnh đất Nho Quan xưa là nơi giáng trần của Cô Đôi Thượng Ngàn thì vùng Mường Thàng cổ lại là cơ duyên hạnh ngộ của Cô với Bà Chúa Thượng Ngàn, và cũng là nơi cô hóa.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-16Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-17Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-18Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-19

Hòa vào dòng người trở về nơi đây chiêm bái Cô Đôi Thượng Ngàn, du khách không chỉ được sống trong không gian thanh tịnh, linh thiêng mà còn được cảm nhận vẻ đẹp của tạo hóa đã ban cho mảnh đất cổ Mường Thàng này.

Những triền đá cheo leo dẫn tới hang động chứa đầy những nhũ đá lấp lánh. Cùng với Hoa Sơn Thạch, Động Không Đáy,... nằm phủ dưới chân núi Đầu Rồng thực sự khiến du khách phải ngẩn ngơ ngắm không quên được vẻ đẹp của núi rừng u linh Cao Phong.

Một nơi sinh thành, một nơi hóa kiếp - hai nơi ấy đều là chốn bồng lai, để người đi kẻ ở đều tạc trong mình những câu chuyện huyền tích đầy màu sắc tâm linh về Cô Đôi Thượng Ngàn, vị tiên nữ giàu lòng nhân ái luôn dang tay cứu giúp người dân.

Hiểu thêm về Thượng Bồng Lai Cổ Linh Từ - nơi vừa xuất hiện trăn bạch tạng khổng lồ: Cô Đôi Thượng Ngàn là ai? Bạch xà mang ý nghĩa gì trong tín ngưỡng thờ Mẫu?-20Pháp luật

Theo Nhịp Sống Việt 

Nguồn gốc "bạch xà khổng lồ" xuất hiện ở đền thờ Cô Đôi Thượng Ngàn

 

Con trăn bạch tạng màu trắng xuất hiện đền thờ Cô Đôi Thượng Ngàn (xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) thu hút nhiều người quan tâm những ngày vừa qua thực chất là sinh vật ngoại lai.


Những ngày vừa qua, thông tin về một cá thể thuộc họ rắn được cho là bạch xà xuất hiện tại đền thờ Cô Đôi Thượng Ngàn (xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) thu hút nhiều người quan tâm.

Nguồn gốc bạch xà khổng lồ xuất hiện ở đền thờ Cô Đôi Thượng Ngàn-1
Hình ảnh con trăn bạch tạng xuất hiện tại đền Mẫu vào ngày 12/3. Ảnh cắt từ clip.

Theo thông tin và hình ảnh được chia sẻ, con trăn màu trắng "khủng" xuất hiện ở đền vào ngày 12/3. Nhiều người dân địa phương đã kéo đến chiêm ngưỡng vì cho rằng đây là hiện tượng lạ, "bạch xà" xuất hiện tại ngôi đền linh thiêng của địa phương.

Ngay sau khi nhận được thông tin, chính quyền địa phương đã cử công an xã đến nắm bắt thông tin và bảo vệ con trăn, không cho người dân đến gần. 

Thông tin trên báo chí, ông Nguyễn Phú Năm - Chủ tịch UBND xã Văn Phương cho biết thêm:

"Con trăn màu trắng chỉ nặng hơn 4 kg, không phải là trăn "khủng" như mọi người lan truyền trên mạng. Đây là loại trăn Nam Mỹ, không phải loại trăn bản địa.

Nguồn gốc con trăn này là có hai vợ chồng người Ninh Bình mang đến một đơn vị chức năng có chuyên môn bảo tồn gần địa bàn xã để bàn giao, nhưng vì trăn ngoại lai nên họ không nhận. Sau đó, có thể người dân đã thả ra môi trường tự nhiên".

Hiện chính quyền xã đã bàn giao con trăn cho lực lượng kiểm lâm.