Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

HỘI TAM HOÀNG: XỬ LÝ BÁO CHÍ…

 

Hồi đó, năm 1953, Sài Gòn như đang sống trong một lớp sương dày đặc của chiến tranh, của buôn lậu và những mối quan hệ ngầm chằng chịt.




Ban ngày, đường phố vẫn tấp nập xe kéo, xe đạp, những cửa hiệu Tây – Tàu – Ta san sát. Nhưng khi đêm xuống, Sài Gòn thuộc về một thế giới khác. Thế giới của quyền lực, của thuốc phiện, của cờ bạc, của gái điếm…


Trong căn phòng nhỏ của một tòa soạn báo nằm trên đường Charner (Nguyễn Huệ ngày nay), một nhà báo đang cặm cụi bên chiếc bàn gỗ cũ. 


Trước mặt ông ta là xấp tài liệu dày, được buộc bằng dây dù đã sờn. Trên mép bàn, chiếc gạt tàn đầy đầu thuốc lá, chứng tích của nhiều đêm trắng nghiên cứu tài liệu.


Ông nhà báo này mới hơn bốn mươi lăm tuổi, vóc người gầy, gương mặt xương xương, nổi tiếng trong giới báo chí Sài Gòn về những bài điều tra “đụng chạm”. 


Ông không viết tin giật gân, cũng không chạy theo những vụ án lặt vặt. Ông theo đuổi những thứ lớn hơn, nguy hiểm hơn. Đó là quyền lực trong bóng tối.


Loạt bài ông đang viết mang một cái tên: “Tam Hoàng và những ông vua kinh tế Sài Gòn”.


Trong nhiều tháng, ông ta lặng lẽ thu thập lời khai của tài công ghe thuốc phiện, của gái lầu xanh, của những tay chân thấp nhất trong các bang hội người Hoa ở Chợ Lớn. 


Ông lần theo các chuyến ghe đêm trên kênh Tàu Hủ, các kho gạo ở Bình Đông, những sòng bạc trá hình sau tiệm thuốc Bắc.


Điều ông phát hiện không chỉ là hoạt động của Tam Hoàng, mà là mối dây liên kết chặt chẽ giữa thế giới tội phạm và những ông trùm kinh tế hợp pháp. 


Có những ông chủ hãng gạo, chủ nhà máy xay lúa, chủ ngân phiếu, thậm chí có cả những nhân vật mang quốc tịch Pháp, ngồi bàn về đạo lý và luật pháp nhưng lại là mắc xích trong thế giới kinh doanh ngầm.


Khi đó ông nhà báo biết mình đang bước vào vùng cấm.


Trước đó vài tuần, ông ta đã nhận được lời “nhắn gửi” từ một người đàn ông lạ:


– Có những chuyện biết vừa đủ thì sống lâu hơn.


Ông ta chỉ cười, đáp ngắn gọn:


– Nghề của tui sự thật là sự thật.


Chiều hôm ấy, khi loạt bài đầu tiên vừa biên tập xong, chuẩn bị đưa vào khuôn in thì xảy ra chuyện. Ông ta ở lại tòa soạn muộn, đồng nghiệp đã về gần hết. Ngoài đường, ánh đèn vàng hắt xuống mặt đường ướt, phản chiếu những bóng người kéo dài.


Khoảng hơn tám giờ tối, tiếng bước chân vang lên ở hành lang. Ông ta ngẩng đầu. Một người đàn ông đội mũ sụp, mặc áo khoác sẫm màu đứng trước cửa phòng, giọng trầm khàn vang lên:


– Ông là tác giả… những ông vua kinh tế Sài Gòn?


Ông ta chưa kịp trả lời.


Một tiếng nổ khô khốc xé toạc không gian yên tĩnh.


Viên đạn găm thẳng vào ngực ông.  Nhà báo ngã gục xuống bàn, xấp tài liệu đổ tung, những trang giấy dính máu loang lổ. Hung thủ quay lưng bỏ đi, phút chốc biến mất vào dòng đêm Sài Gòn như chưa từng tồn tại.


Tác giả loạt bài “Tam Hoàng và những ông vua kinh tế Sài Gòn” chết trước khi bài báo kịp lên khuôn.


Cảnh sát tới rất nhanh. Biên bản được lập, nhân chứng được hỏi. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở đó. Không có nghi phạm. Không ai bị bắt giữ. Không có phiên tòa. Rồi vụ án nhanh chóng rơi vào im lặng.


Trong các quán cà phê báo giới, người ta rỉ tai: “Tam Hoàng đã ra tay”. Nhưng cũng có người hiểu rõ hơn: “Không chỉ Tam Hoàng. Viên đạn đó tới từ nhiều thế lực”.


Xấp tài liệu của Nhà báo điều tra biến mất. Một số bản thảo còn sót lại bị tòa soạn niêm phong, rồi sau đó cũng không ai biết đi đâu. Loạt bài điều tra chưa từng được đăng trọn vẹn.


Rồi cái chết của Nhà báo điều tra đó trở thành một lời cảnh báo không cần tuyên bố.


Từ đó, những bài viết về Tam Hoàng trên mặt báo Sài Gòn thưa dần, rồi gần như biến mất. Chợ Lớn vẫn nhộn nhịp, các ghe gạo vẫn xuôi ngược, các sòng bạc vẫn sáng đèn sau những cánh cửa kín. Còn những “ông vua kinh tế” vẫn tiếp tục xuất hiện trên các mặt báo với hình ảnh hào nhoáng, từ thiện, đạo mạo…


Những ông trùm không ngai đó, từ vua ve chai, vua thép, vua lúa gạo, vua thuốc men… cho đến vua bột ngọt, đều có chung một dòng máu, họ là người Hoa. 


Họ lấy Chợ Lớn làm lãnh địa. Họ có mối ràng buộc sâu sắc với Tam Hoàng. Một số như Trần Tề là thủ lĩnh, số khác không nhập hội nhưng vẫn phải răm rắp cống nạp để đổi lấy sự bình yên.


Họ kiến tạo nên một tầng lớp quý tộc kinh tế mới ngay giữa Chợ Lớn. Dinh thự của họ nguy nga, xe hơi bóng loáng, trên người khoác lụa là cao cấp từ Hồng Kông, Ma Cao. Con cháu của họ được gửi sang Pháp, Anh, Mỹ du học…


HUYNH MINH DUC

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

CỖ XƯA

 

▫️ Ngày xưa chủ nhà có cỗ mời họ hàng, làng nước thường nói khiêm tốn rằng :


“ Hôm nay có việc vui mừng, gia đình lấy mâm làm cỗ, kính mời trên các cụ cùng các ông các bà… uống chén rượu nhạt, mừng cho gia đình chúng tôi”


▫️ Nếu là ngày giỗ, khi đi mời trước một hai ngày cũng nói : 



“ Hôm tới giỗ cụ cháu, nhà cháu kiếm lưng cơm cúng cụ, mời ông lại xơi với ông cháu miếng cơm/ hay chén rượu nhạt” 


▫️ “ Lấy mâm làm cỗ “ thì cỗ có gì ? 


Tiêu biểu nhất trong cỗ làng là cỗ đám cưới. Ngày xưa nhà gái lấy bao nhiêu mâm cỗ thì nhà trai làm từng ấy mâm cỗ bưng đến. Thường là từ 30 đến 50 mâm. 


▫️ Cỗ Hữu Bằng xưa bốn người ngồi một mâm.


Cỗ có hai đĩa thịt luộc, một đĩa lòng, một bát om, một quả nem, một bát bánh đúc, một đĩa giò nạc, một đĩa giò mỡ, xôi thì bốc dàn trên mặt mâm.


Cỗ lớn hơn thì có thêm bát ninh và bát mọc.


Ninh là món thịt nấu nhừ, gần như thịt đông. 


Miếng thịt đặt lạt buộc chéo, khi ăn chỉ kéo hai cái lạt là thành bốn miếng, to bằng bao diêm. 


Mọc là thịt nạc giã nhuyễn, viên lại với nấm hương, mỗi bát 4 viên và 8 quả đậu Hà Lan.


Tráng miệng bằng chè bát hoặc chè kho. Nhà gái thêm rau dưa và cơm tẻ là đủ bữa cỗ. Mỗi mâm như thế có chai rượu gạo nếp nút lá chuối, thường mua ngoài Quế Dương, rượu nặng, thơm lừng.


Cũng có khi nhà gái lấy một số mâm bưng đến nhà gái, một số mâm để bà con đi đưa dâu thì ăn luôn bên nhà trai. Cỗ như thế nên ăn chỉ hết một nửa, còn lại thì lấy phần mang về.


Quả nem trong đám cưới được gói trong lá chuối xanh vuông vắn, buộc sợi lạt điều kiểu chữ thập, để cạnh mâm. Những tay sành rượu thì thủ sẵn trong túi nắm lá sung, cho nhúm nem vào lá sung, gói lại đưa lên miệng thì thật khoái khẩu. 


Nếu cỗ không mời khách, chủ yếu là người nhà, gọi là cỗ dấm ghém thì không có hai đĩa giò và ninh mọc. Một mâm cỗ dấm ghém dùng hết 1 kg thịt, nếu nhà có con lợn mổ xong, bỏ lòng rồi cân được 50kg ( gọi là cân móc hàm) thì đủ làm 50 mâm cỗ. 


Vì cỗ toàn thịt lợn như vậy, nên những đám cưới nhà nghèo thường lại ngon hơn. 


Nhà nghèo thì hôm cưới có trầu nước, không có cỗ bàn. Hôm sau gia đình mới làm một hai chục mâm mời thông gia và người thân, không mổ lợn, chỉ mua ít thịt lợn về và thịt thêm mươi con gà, thành ra cỗ ngon hơn đám lớn. 


▫️ Đặc sản


Cuộc sống ngày nay khác xưa rất nhiều, đời sống không còn thiếu thốn, nên cỗ bàn cũng thay đổi theo thời cuộc nhưng có mấy món trở thành đặc sản của làng, đó là om, nem và chè kho.


Xuất sắc nhất là món om. Om gồm xương sườn, chân giò, thủ lợn chặt ra, có dấm mẻ và một chút mắm tôm, giềng thát lát, đun chín thì đổ tiết vào. Nguyên liệu đơn giản nhưng quan trọng ở kỹ thuật chế biến, nhất là đun thịt, cho tiết và gia giảm gia vị sao cho vừa khéo mới đạt yêu cầu.


Ngày xưa các cụ mổ con lợn, lấy bộ giò thủ với bộ xương để làm nồi om là vừa khớp số cỗ. Nếu làm 50 mâm thì sẽ đủ 50 bát om, múc vào cái bát chiết yêu , thắt dưới loe trên.


Cỗ Hữu Bằng đều do đàn ông đảm nhiệm, đàn bà chỉ nấu cơm, canh.


Nồi om đương nhiên là trách nhiệm của người đàn ông thạo việc. 


Xương thịt chặt vừa miếng cho vào nồi om khoảng 30 phút tính từ khi sôi, khi thấy thịt tụt xương là vừa chín tới. Khi đó bắc ra khỏi bếp rồi đánh mạnh cho nguội bớt và thịt “ ra nhựa” rồi mới cho tiết. 


Nếu cho tiết vào khi thịt nóng quá tiết sẽ bị đen và vón lại( từ chuyên môn gọi là bị con kiến), khi múc ra bát thì nước mỡ nổi lên mặt bát om, không quánh và kém ngọt. Nếu nguội quá mới cho tiết vào thì om ra nước và mầu đỏ, tiết không chín là hỏng. 


Về cảm quan, bát om có mầu nâu đỏ là chuẩn. Nghe nói các làng lân cận cũng sang học công thức làm om nhưng không làm được như Hữu Bằng. 


Đi kèm với bát om mầu nâu đỏ là bát bánh đúc vàng nhạt, lốm đốm những hạt lạc. Bánh đúc được thái thành từng thỏi cỡ hai ngón tay, chấm với om là một sự kết hợp rất ăn ý. 


Lấy xôi trắng lại chấm nước om cũng ngon tuyệt. Trong bánh đúc có nước vôi, nghe nói cũng có tác dụng kiềm chế món thịt sống của quả nem thính.


Nem thính dùng thịt thăn sấn hoặc Mông trên của con lợn làm lông sạch bằng nước sôi, khi mổ xong lợn còn nóng pha thịt lấy chỗ thăn sấn ra giữ sạch sẽ, không rửa nước lã nữa. Lọc bì lợn riêng ra, không để mỡ còn dính lại trên mặt bì, làm sạch miếng bì rồi luộc chín tới thì bỏ ra, rửa qua nước sạch rồi để ráo.


Phần thịt nạc, mỡ của miếng thăn sấn thái khổ nhỏ và mỏng, rồi bóp nhẹ với một ít thính cho nó cứng rồi thái cả mỡ và nạc thành hạt lựu. Nêm một chút muối rang giã nhỏ, củ hành khô băm vụn rồi tất cả trộn đều với thính ( bột gạo rang giã nhỏ thành bột) 


Chỗ bì lợn luộc khi nguội thái chỉ nhỏ thêm một chút lá chanh rồi trộn cùng với thịt. Mỗi quả nem thính khoảng 1,2 Lạng. Nem làm xong để sau khoảng 4, 5 tiếng mang ra ăn thì ngon nhất.


▫️ Chè kho


Chè kho là loại chè nấu bằng đậu xanh và mật mía, nấu xong đổ ra mâm gỗ. Để có một mâm chè vuông mỗi chiều 40 cm, cao 5 cm thì cần 4kg đỗ và 4 kg mật. 


Đỗ xanh ngâm và đãi sạch vỏ cho vào nồi đun cho chín rồi cho mật mía vào đánh nhuyễn. Nấu chè là một việc khá vất vả. Người ta chặt một đoạn cây tre nhỏ làm gậy quấy chè. Phải hai người đàn ông khỏe mạnh thay nhau đánh cho nồi chè bay hơi nước từ từ. 


Đứng cạnh bếp lửa quấy liên tục 5,6 tiếng nên mùa đông cũng vã mồ hôi. Nồi chè khô dần đến lúc cây gậy siết một đường mà nhìn thấy đáy nồi mới là đạt yêu cầu. 


Nồi chè vừa chín được đổ ra các mâm đã chuẩn bị sẵn, có lót giấy.


Khi đó trẻ con rất thích thú, mỗi đứa chuẩn bị sẵn cái thìa để vét nồi. 


Sau khi đổ chè kho vào mâm, dàn cho phẳng đều rồi rắc lên trên một ít bột quế chi, hoa hồi tán nhỏ là hoàn thành. 


Hữu Bằng có lệ dùng xôi trắng và chè kho làm cỗ lễ đám cưới hay tiệc lão. Nếu làm cỗ lễ đám cưới thì mâm chè được cắt làm 9 miếng vuông, nếu để ăn tráng miệng theo rừng mâm cỗ thì cắt thành 36 miếng. 


Trong dịp Tết Nguyên đán nhà nào cũng nấu chè kho để cúng và tiếp khách. Chè quấy kỹ, để hàng tuần vẫn không hỏng. Chè kho ăn với xôi trắng là một mỹ vị trong ký ức mỗi người Hữu Bằng. 


Khi ông bà đi việc họ hay dự cỗ bàn mang về cho cháu thỏi chè kho và nắm xôi trắng thì ai ăn cũng thấy ngon nhất trên đời. Nếu để tiếp khách trên bàn trà thì không có xôi trắng. 


Xôi trắng chè kho thành câu ca của người Hữu Bằng, tâm sự của những người thương nhau, dù đám cưới đơn sơ mà vẫn đủ lễ nghĩa: 


Thương nhau xôi thúng chè kho


Lọ là rượu thịt, bạc thoi, vàng mười.


Ngày nay người ta làm chè kho đơn giản hơn các cụ, và dùng đường nên màu chè kho vàng nhạt, khác với màu nâu của chè nấu mật mía ngày xưa. Vì nấu bằng đường nên khâu quấy chè cũng đơn giản hơn rất nhiều. 


▫️ Theo sách “Hữu Bằng Làng xưa chuyện cũ”


▫️ Làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Đây là một ngôi làng cổ rất nổi tiếng ở vùng xứ Đoài, nằm giáp ranh giữa huyện Thạch Thất và huyện Quốc Oai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km về phía Tây.


▫️ Dân gian thường gọi là làng Nủa. Chợ Nủa ở đây là một trong những phiên chợ quê còn giữ được nhiều nét mộc mạc của vùng đồng bằng Bắc Bộ.


▫️ Hữu Bằng nổi tiếng là một làng nghề cực kỳ năng động. Trước đây làng có nghề dệt, làm may mặc, nhưng hiện nay nổi tiếng nhất cả nước với nghề sản xuất đồ gỗ và nội thất.


▫️ Bức ảnh này là một tác phẩm kinh điển của nhiếp ảnh gia người Pháp Pierre Dieulefils, được chụp vào khoảng những năm 1890 - 1900 tại miền Bắc Việt Nam 


▫️ Bức ảnh ghi lại cảnh bốn người đàn ông đang ngồi quây quần bên mâm cơm. Họ mặc áo ngũ thân truyền thống, đầu quấn khăn xếp (khăn đóng) đặc trưng của người Việt xưa.


▫️ Đây là một trong những tư liệu quý giá nằm trong bộ sưu tập bưu thiếp về Đông Dương của Dieulefils, giúp hậu thế hình dung rõ nét về lối sống, cách ăn mặc và sinh hoạt thường nhật của người Việt cuối thế kỷ 19.


▫️ Tâm trà phục chế màu từ ảnh đen trắng


▫️ Ảnh mang tính minh hoạ, không có căn cứ để xác định đây là mâm cỗ làng Nủa

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

NGÀY TẾT đi MIẾU - ĐỀN - CHÙA ĐƯỢC GÌ?


(Ghi chép của Gã Khờ)


Tết đến, người Việt kéo nhau đi đền, đi chùa đông như trẩy hội. Đông đến mức không còn là tín ngưỡng, mà giống một cuộc di cư tinh thần: ai cũng sợ mình đứng ngoài. Sợ không đi thì “thiếu lễ”, sợ không khấn thì “thiệt phần”, sợ không chen thì năm mới kém may hơn người khác.



Nhìn thì tưởng mộ đạo. Nhưng nhìn kỹ, đó là một xã hội mặc cả với vô hình.


Người ta không đến chùa để tĩnh tâm.

Không đến đền để soi lại mình.

Mà đến để đòi.


Đòi làm ăn thuận lợi.

Đòi thăng quan tiến chức.

Đòi tai qua nạn khỏi.

Đòi cả những thứ chính họ biết rõ: mình không xứng.


Điển hình nhất là cảnh “vay – trả” ở đền Bà Chúa Kho. Đầu năm, người người chen chúc vay vốn âm phủ, viết sớ như ký hợp đồng tín dụng. Cuối năm, khi làm ăn được, đền lại vắng. Nếu không được thì… im lặng. Thánh thần ở đâu trong một thứ tín ngưỡng chỉ có đầu vào, không có đầu ra?


Người Việt đi chùa rất nhiều, nhưng hiếm khi hỏi mình phải sống thế nào cho đúng.

Họ chỉ hỏi: “Con xin cái gì?”


☸️. Tín ngưỡng biến thành dịch vụ – và con người thành khách hàng


Khi tín ngưỡng không còn là con đường tu sửa nội tâm, nó lập tức biến thành thị trường.

Có cầu thì có cung. Có mê thì có kẻ khai thác mê.


Một bộ phận sư sãi, thầy cúng, “thầy tâm linh” xuất hiện như những nhà môi giới giữa người trần và thần thánh. Họ không giảng đạo, mà bán niềm tin. Không khuyên người ta bớt tham – sân – si, mà hướng dẫn cách dâng cho đúng giá để “linh”.


Ở đó:

 - Lễ càng to thì “độ” càng cao

 - Phong bì càng dày thì lời khấn càng “trúng”

 - Sớ càng dài thì nghiệp càng “nhẹ”


Chùa không còn là nơi gột rửa dục vọng, mà thành nơi hợp thức hóa dục vọng.

Kẻ buôn gian bán lận cúng tiền để mong yên tâm tiếp tục buôn gian.

Quan tham đi lễ để xin… tham cho trót lọt.


Đó không phải là mê tín dân gian nữa, mà là đạo đức giả có tổ chức.


🤝. Cái ác được “rửa tội” bằng nhang khói


Đáng sợ nhất không phải là người mê tín.

Mà là người lấy tín ngưỡng làm nước rửa cho cái ác.


Họ sẵn sàng chửi rủa người khác bằng những câu “nhân quả”, “khẩu nghiệp”, “tội lỗi”, nhưng chính họ thì:

 - Sống vô cảm

 - Tham lam

 - Cay nghiệt

 - Thích nguyền rủa hơn là giúp đỡ


Họ tin rất sâu vào quả báo – nhưng chỉ tin cho người khác.


Đạo Phật, trong tay nhiều người Việt, bị biến thành cây gậy đạo đức để đánh người, chứ không phải tấm gương để soi mình. Miệng niệm Phật, tay gõ phím rủa người ta chết yểu. Đó không phải là vô minh – đó là tha hóa.


🙏. Thánh thần không làm việc thay con người


Nếu có linh hồn của Trần Hưng Đạo, thì tôi tin ngài sẽ không ngồi ở bất kỳ ngôi đền nào để chứng kiến cảnh:

 - Cướp lộc

 - Giẫm đạp

 - Chen lấn

 - Xin ấn để tiếp tục bóc dân


Không có vị thánh nào ban phúc cho một xã hội mà người ta muốn giàu nhanh nhưng không muốn sống tử tế, muốn hơn người nhưng không muốn lao động, muốn yên thân nhưng sẵn sàng đẩy rủi ro cho kẻ khác.


Thánh – nếu có – chỉ đứng sau lưng người ngay thẳng, không đứng trước mặt kẻ cúi đầu mà lòng đầy tính toán.


🤠. Khi con người bỏ rơi trách nhiệm, họ invent ra thần linh


Càng thiếu niềm tin vào bản thân, người ta càng cần một quyền lực siêu nhiên để dựa.

Càng trống rỗng bên trong, người ta càng khấn to bên ngoài.


Nhưng thần linh – suy cho cùng – không ở ngoài kia.

Nó nằm trong ý thức và lựa chọn mỗi ngày của con người.


Làm điều xấu → đó là ma tính.

Làm điều thiện → đó là Phật tính.


Không có cây nhang nào thay được một hành vi tử tế.

Không có mâm lễ nào chuộc được một đời sống gian trá.


🙏. Đi chùa mà không sửa mình – thì đi bao nhiêu cũng vô ích


Đi chùa không sai.

Tín ngưỡng không có lỗi.


Cái sai nằm ở chỗ:

 - Dùng chùa để trốn trách nhiệm

 - Dùng Phật để hợp thức hóa cái tham

 - Dùng Thánh để che chắn cho cái ác


Một xã hội mà người ta tin rất nhiều vào thần thánh, nhưng không tin vào luật pháp, vào lương tri, vào lao động tử tế, thì đó là một xã hội đang tự bào mòn mình từ bên trong.


Nếu Tết này còn đi chùa, thử khấn một điều khác xem sao:


“Xin cho con đủ tỉnh táo để không làm điều xấu.

Xin cho con đủ dũng khí để sống đàng hoàng, kể cả khi không ai chứng giám.”


Nếu khấn được như thế  - không cần đền nào cũng đã là linh rồi.


—-

Ảnh internet