Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

Tháng cô hồn những điều kiên kỵ và nên làm

 

Master. Huang Guohui (Hoàng Quốc Huy)
  1. Từ Đạo gia đến Đạo giáo

1.1. Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II sau công nguyên, cơ sở lí luận của nó là ĐẠO GIA – triết thuyết do Lão Tử đề xướng và Trang tử hoàn thiện (học thuyết Lão-Trang).

Lão Tử người nước Sở (vùng Bách Việt), tên là Nhĩ, tự là Đam (nên còn gọi là Lão Đam), sống vào khoảng thế kỉ Vl-V trCN, gần như đồng thời với Khổng Tử (lớn tuổi hơn Khổng Tử). Ông từng làm quan phụ trách thư viện nhà Chu, sau lui về ở ẩn; không biết mất năm nào, tương truyền về già cưỡi con trâu xanh đi về phía tây vào núi rồi biến mất. Tư tưởng của Lão Tử được trình bày trong cuốn Đạo đức kinh. Sách gồm 81 chương chia làm hai thiên thượng và hạ bàn về Đạo kinh và Đức kinh.

Đạo của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: “Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước TỰ NHIÊN”. Nó là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái tĩnh vô hình thì Đức là cái động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.

Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng âm dương của triết lí nông nghiệp. Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng, chu đáo, và do vậy mà mầu nhiệm. Hợp lí, vì, theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao thì ghìm xuống; thấp thì nâng lên. Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thắng, không cần nói mà ứng nghiệm. Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên và, do vậy, sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: “Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”.

Từ đây, Lão Tử suy ra triết lí sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập, phải vô vi (không làm). Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hòa nhập với tư nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “vật cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì. Triết lí vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là “chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình”. Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải “giống như kho một nồi cá nhỏ”: cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không khuấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát.

1.2. Công lao của Lão Tử chính là đã học thuyết hóa những tư tưởng triết lí của truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam: ĐẠO chẳng phải cái gì khác ngoài sự phạm trù hóa triết lí tôn trọng tự nhiên; còn ĐỨC chính là sự phạm trù hóa luật âm dương biến đổi. Khổng Tử và Lão Tử đều tiếp nhận sức sống của văn minh nông nghiệp, nhưng trong khi Khổng Tử tìm cách kết hợp nó với văn minh gốc du mục thì Lão Tử dựa hoàn toàn vào nó. Khổng thì “nhập thế”, “hữu vi”, còn Lão thì “xuất thế”, “vô vi”. Không phải không có lí do khi có người coi Lão Tử là “ông tổ triết học của dòng Bách Việt” (Nguyễn Hữu Lương, 1971).

Cũng chính vì học thuyết của Lão Tử xây dựng trên cơ sở triết lí âm dương của văn hóa nông nghiệp là cái mà truyền thống văn hóa gốc du mục chưa hề biết đến cho nên Hegel từng nhận xét rằng tư tưởng của Khổng Tử thì nghèo nàn, còn Lão Tử mới xứng đáng là người đại diện cho tinh thần phương Đông cổ đại.

Không phải ngẫu nhiên mà trong khi Khổng Tử luôn được hình dung như một ông quan phương Bắc mũ cao áo dài thì Lão Tửnhư một ông già nông dân phương Nam chất phác chân đất cưỡi trâu (hình 6.21). Trong khi tiểu sử cụ Khổng được người sau biết rất rõ thì lai lịch cụ Lão mờ mờ ảo ảo. Trong khi Khổng ôm mộng “bình thiên hạ” thì Lão hài lòng với những “nước nhỏ dân ít” như những làng quê mang tính cộng đồng ở bên trong và tính tự trị ở bên ngoài, nhỏ tới mức “nước láng giềng trông thấy nhau, tiếng gà gáy chó sửa cùng nghe”, và tự trị tới mức “dân đến già chết mà không đi lại với nhau”.

Trong khi Khổng Tử dù đã kết hợp tinh hoa của văn hóa nông nghiệp với truyền thống của văn hóa gốc du mục mà Nho giáo của ông vẫn không được dùng thì dễ hiểu là triết lí hoàn toàn dựa trên truyền thống nông nghiệp phương Nam của Lão Tử càng không thể được sử dụng. Lão Tử phàn nàn: “Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm. Thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm”.

1.3. Mãi đến Trang Tử (khoảng 369-286 trCN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. Trang Tử tên thật là Trang Chu, người nước Tống (nay thuộc tỉnh Hà Nam), suốt đời từ chối làm quan, cuối đời sống ẩn dật tại núi Nam Hoa, tư tưởng của ông được ghi lại trong sách Nam Hoa kinh.

Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người và thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận.

Một ví dụ rất điển hình cho thuyết tương đối ngụy biện của Trang Tử là câu chuyện Trang Chu hóa bướm ghi trong Nam Hoa kinh: Một hôm Trang Chu chiêm bao thấy mình là bướm, thích chí bay luôn, quên mình là Chu. Chợt tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Và rồi hoang mang chẳng còn biết Chu chiêm bao thấy mình là bươm hay bướm chiêm bao thấy mình là Chu nữa!

Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn): “Kẻ trộm gươm thì chết, người trộm nước thì làm vua chư hầu. Cửa vua chư hầu mà còn có nhân nghĩa nữa sao?”

Nhưng Trang Tử đề xuất biện pháp gì? Ông đã đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ nghĩa yếm thế thoát tục, trở về xã hội nguyên thủy: “Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật chung sống, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú”.

1.4. Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỉ II), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành ĐẠO GIÁO. Chủ trương vô vi cùng thái độ phản ứng của Lão-Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng làm vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa.

Đạo giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông là hóa thân của “Đạo” giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có hai phái: ĐẠO GIÁO PHÙ THỦY dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp cho dân thường mạnh khỏe. ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN dạy tu luyện, luyện đan, dành cho quý tộc cầu trường sinh bất tử. Kinh điển của Đạo giáo gọi là Đạo tạng; ngoài sách về nghi lễ, giáo lí, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh, bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút kí,… tổng cộng lên tới trên năm nghìn quyển.

Đạo giáo khởi đầu bằng Ngũ đấu mễ đạo (Đạo 5 đấu gạo) – một thứ Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng sáng lập. Trương Đao Lăng tu luyện ở vùng núi Tứ Xuyên, ông lấy Lão Tử làm ngọn cờ, dùng bùa chú và phương thuật, nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người vào đạo nhằm chống lại các thế lực phong kiến Đời Tam Quốc, Trương Giác cũng dùng các phương thuật, bùa phép để tập hợp nông dân tiến hành khởi nghĩa Hoàng cân (nghĩa quân đầu chít khăn vàng làm dấu hiệu) chống lại chế độ cai trị đương thời.

Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử. Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng). Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công,… lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo). Con người, cũng như vạn vật, là từ “Đạo” mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với “Đạo”.

  1. Sự thâm nhập và phát triển của Đạo giáo ở Việt Nam

2.1. Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỉ II. Sách Đạo Tạng kinh ghi: “Sau khi vua Hán Linh đế băng hà, xã hội (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là yên ổn. Người phương Bắc chạy sang lánh nạn rất đông, phần nhiều là các đạo sĩ luyện phép trường sinh theo cách nhịn ăn”. Nhiều quan lại Trung Hoa sang ta cai trị đều sính phương thuật (như Cao Biền đời Đường từng lùng tìm yểm huyệt, hi vọng cắt đứt các long mạch để triệt nguồn nhân tài Việt Nam).

Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu. Từ xa xưa người Việt Nam từ miền núi đến miền xuôi đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú… có thể chữa bệnh, trị tà ma, có thể làm tăng sức mạnh, gươm chém không đứt… Tương truyền Hùng Vương là người giỏi pháp thuật nên có uy tín thu phục 15 bộ lập nên nước Văn Lang. Ngay các nhà sư cũng phải học các phép trị bệnh, trừ tà thì mới đưa Phật giáo thâm nhập sâu vào dân chúng vốn có tín ngưỡng ma thuật được. Vì vậy, dễ hiểu là tại sao Đạo giáo, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới. Do vậy mà tình hình Đạo giáo ở Việt Nam rất phức tạp, khiến cho không ít nhà nghiên cứu đã quy hết mọi tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam cho Đạo giáo và, ngược lại, người Việt Nam sính đồng bóng, bùa chú thì lại chẳng hề biết Đạo giáo là gì.

Một sự khác biệt nữa không kém phần quan trọng giữa Nho giáo và Đạo giáo là: Trong khi Nho giáo vốn mang bản chất của một công cụ tổ chức xã hội và, với Hán Nho, nó đã thực sự trở thành vũ khí của kẻ thống trị thì Đạo giáo, trên cơ sở thuyết vô vi, lại sẵn mang trong mình tư tưởng phản kháng giai cấp thống trị. Vì vậy, cũng giống như ở Trung Hoa, vào Việt Nam, Đạo giáo (phù thủy) đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻ thống trị. Ngay khi thâm nhập, nó đã là vũ khí chống lại phong kiến phương Bắc rồi. Phong trào nông dân khởi nghĩa ở các tỉnh Nam Trung Hoa vào thế kỉ II đều có liên hệ với các cuộc khởi nghĩa nông dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Vào thời kì phong kiến dân tộc ở Việt Nam, Đạo giáo thường được dùng để thu hút nông dân tham gia vào các cuộc bạo động chống lại cường hào ác bá địa phương và quan lại trung ương: Thời Lí Nhân Tông có Lí Giác cầm đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu (Nghệ An), là kẻ học được phép lạ có thể “biến cỏ cây thành nguồn”. Năm 1379 (đời Trần Phế Đế), ở Bắc Giang có Nguyên Bổ xưng vương, hiệu là Đường Lang Tử Y. Đời Hồ có Trần Đức Huy dùng phương thuật thu hút đông đảo người theo, bị Hồ Quý Li dẹp năm 1403.

Thời chống Pháp, để đối phó với kẻ địch có ưu thế về súng đạn, nhiều cuộc khởi nghĩa đã tích cực sử dụng ma thuật phù thủy làm vũ khí tinh thần: Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) khởi nghĩa năm 1895 ở các tỉnh miền biển Bắc Bộ, tuyên truyền là mình có phép làm cho súng Pháp quay trở lại bắn Pháp. Võ Trứ (quê ở Bình Định) và Trần Cao Vân (quê ở Quảng Nam) lãnh đạo nghĩa quân người Kinh và người Thượng đeo bùa mang cung tên, dao rựa đánh giặc. Nguyễn Hữu Trí đóng trụ sở ở núi Tà Lơn (Nam Bộ), tôn Phan Xích Long làm Hoàng đế, đồn rằng ông là con vua Hàm Nghi và có nhiều phép màu, nhất là phép làm cho súng địch không nổ. Rồi phong trào lập “hội kín” ở Nam Kì lôi cuốn hàng vạn người tham gia…

2.2. Bên cạnh việc thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão quân, thần Trấn Vũ (Huyền Vũ), Quan Thánh đế (Quan Công), thần điện của Đạo giáo phù thủy Việt Nam còn thờ nhiều vị thần thánh khác do Việt Nam xây dựng. Trần Hưng Đạo được coi là có tài trừ tà ma cứu nạn cho dân nên được tôn là Đức Thánh Trần; Liễu Hạnh được coi là nàng tiên có nhiều phép thần thông luôn phù hộ cho dân nên được tôn là Bà Chúa Liễu. Trong tâm thức dân gian, Thánh và Chúa luôn sóng đôi bên nhau (Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ) – đó chính là sản phẩm của lối tư duy cặp đôi theo triết lí âm dương (xem II-§ 1.4).

Thờ đức Thánh Trần và Tam phủ, Tứ phủ thường gắn liền với đồng cốt (đồng bóng). Người thờ đức Thánh Trần gọi là Thanh đồng (Ông đồng); còn các Bà đồng thì thờ Tam phủ, Tứ phủ, gọi là thờ Chư vị. Lên đồng còn gọi là hầu bóng, mỗi lần người ngồi đồng được thần thánh nhập vào phán bảo hoặc chữa trị… gọi là một giá đồng. Những phụ nữ số phận long đong lận đận được khuyên là có số thờ phải đến đội bát hương ở đền hay phủ, xin làm con công đệ tử của thánh thần.

Ngoài ra, các pháp sư còn hay thờ các thần: Tam Bành, Độc Cước, Huyền Đàn, ông Năm Dinh, Quan Lớn Tuần Tranh.

Tam Bành tương truyền vốn là ba bọc sừng-sỏ-sắt do một bà me quê ở Vụ Bản (Nam Định) sinh ra vào thời vua Lê Thánh Tông. Bà mẹ sợ quá đem chôn. Rồi Sừng-Sỏ-Sắt hóa thành tinh, rất linh thiêng và có công đánh giặc nên được vua phong là Tam Danh đại tướng âm binh. Các pháp sư thờ hình người có ba đầu gọi là Tam Danh, dần dấn đọc chệch thành Tam Bành.

Thần Độc Cước là con một pháp sư nổi tiếng ở Từ Sơn (Bắc Ninh). Tương truyền đứa trẻ mới ba tuổi đã đánh trống động tới Trời, Trời sai thiên tướng xuống lừa lúc nó ngủ chém xẻ đôi người. Bố nó đem chôn, tương truyền 100 ngày sau đứa bé sống lại, chỉ còn đầu mình với một tay một chân nên được gọi là Độc Cước. Ở núi Sầm Sơn (Thanh Hóa) có đến thần Độc Cước thờ một vết bàn chân lớn in thủng mặt đá; tương truyền thần bắt tà ma rất linh ứng.

Huyền Đàn là vị thần tương truyền xuất hiện vào thời Đinh, cưỡi cọp đen, múa gươm, đánh đâu thắng đó, được Ngọc Hoàng xếp vào sẽ 12 thiên tướng.

Ông Năm Dinh (hay Ngũ Dinh quan lớn) là thần Ngũ Hổ có sức mạnh trấn trì tà ma. Ông Năm Dinh được thờ trong điện dưới dạng bức tranh Ngũ Hổ.

Quan lớn Tuần Tranh tương truyền là một cặp rắn thần nở từ trứng do hai ông bà già ở Tứ Kì (Hải Dương) nhặt được. Lớn lên, cặp rắn quấn quýt lấy hai người nhưng lại hay ăn gà. Sợ hàng xóm biết, ông phải đem ném chúng xuống sông Tranh, nơi đó nước trở nên xoáy mạnh và rất linh thiêng. Quan lớn Tuần Tranh được thờ trong điện dưới dạng hai con rắn bằng giấy (là Thanh Xà và Bạch Xà – đặt tên theo màu Ngũ hành!).

Các đạo sĩ từng được nhà nước phong kiến hết sức coi trọng chẳng ném gì tăng sư. Các vị qua thời Đinh, Lê, Lí, Trần đều chọn cả tăng sư lẫn đạo sĩ vào triều làm cố vấn; bên cạnh tăng quan, có cả chức đạo quan.

Vào thế kỉ XVII, dưới thời vua Lê Thần Tông, xuất hiện một trường phái Đạo giáo Việt Nam có quy mô rất lớn gọi là Nội Đạo. Người sáng lập ra Nội Đạo là Trần Toàn, quê ở Quảng Xương (Thanh Hóa), nguyên là một quan to triều Lê, không theo nhà Mạc, từ quan về quê tu tiên, giúp dân trừ ma quỷ suốt hai vùng châu Hoan và châu Ái. Ông mở đạo trường ở Hoằng Hóa, có 10 vạn tín đồ, được tôn là Thượng sư. Tương truyền ông từng dùng bùa phép chữa khỏi bệnh mọc lông cọp cho vua Lê Thắn Tông, cứu sống con Chúa chết đã hai ngày. Vua và Chúa sai dựng nhà ở quê cho Toàn và tự tay vua ghi ba chữ Nội Đạo Tràng. Ba người con trai của Toàn đều giỏi đạo pháp, được tôn là “Tam Thánh”. Phái đạo này phát triển vào Nghệ An và ra Bắc; đến tận thế kỉ XX hãy còn tồn tại nhiều trung tâm ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Thậm chí tới sau chiến tranh thế giới lấn thứ nhất, ở Giảng Võ (Hà Nội) hằng năm còn có tới mấy vạn tín đồ đến trường Nội đạo để cúng lễ, chữa bệnh!

2.3. Trong Đạo giáo thần trên thì phái luyện thuốc trường sinh (ngoại dưỡng) chủ yếu phổ biến ở Nam Trung Hoa nhưng phần lớn thần sa mà các đạo sĩ Trung Hoa sử dụng để luyện đan đều được các lái buôn mua từ Giao Chỉ (thường là phải đổi bằng vàng). Năm 42, Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ, ngoài việc dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, còn có mục đích tìm kiếm các mỏ thần sa. Sau trận chiến tại chiến trường Mê Linh – Cấm Khê khiến Hai Bà Trưng phải tự vẫn tại cửa sông Hát, rồi đàn áp đẫm máu bộ phận còn lại của nghĩa quân ở Cửu Chân (Thanh Hóa), Mã Viện tiếp tục tiến sâu vào tận vùng mà nay là Quảng Nam và đã tìm thấy mỏ thần sa khổng lồ tại Cù Lao Chàm, mỏ này khai thác đến hết đời Tống mới cạn. Đời Đông Tấn (326-334), Cát Hồng từ chối tước vị do triều đình tấn phong, chỉ xin sang làm tri huyện ở Câu Lậu (Hải Dương) để tìm đan sa luyện thuốc. Thế kỉ XIII (đời Nguyên), nhà sư Thích Đại Sán đi du khảo vùng Đông Dương đã xác nhận rằng xứ Giao Chỉ là nơi có nhiều thần sa, và mỏ thần sa ở Cù Lao Chàm là lớn nhất. Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam chỉ xuất hiện lẻ tẻ, cá biệt, như trường hợp Đạo sĩ Huyền Vân tu ở núi Phụng Hoàng (Hải Dương) đời Trần Dụ Tông (ở ngôi 1341-1369), được vời vào triều để dâng vua thuốc trường sinh.

Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam là phái nội tụ. Người Việt thờ Chủ Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của Đạo giáo Việt Nam, gọi là Chử Đạo Tổ. Lịch sử và truyền thuyết Việt Nam từng ghi lại sự tích nhiều đạo sĩ tu luyện thành tiên, tương truyền có nhiều phép lạ.

Đời Trần Thuận Tông (ở ngôi 1388-1398) có Từ Thức quê ở Thanh Hóa, khi làm quan ở Tiên Du (Bắc Ninh) đã cứu giúp một người con gái, sau về quê ở ẩn tương truyền thành tiên và được kết hôn với tiên nữ Giáng Hương là cô gái mà ông cứu giúp khi xưa. Đời Trần-Hồ có người tu tiên ớ núi Nưa (Nông Cống, Thanh Hóa), người đương thời gọi là Hoàng Mi tiên sinh, từng tiên đoán chính xác hậu vận của cha con họ Hồ ; tương truyền đến thời Lê, Nguyễn sau này thỉnh thoảng vốn có người còn gặp.

Đời Lê có thư sinh Trần Tú Uyên tương truyền là có may mắn kết duyên với tiên nữ Giáng Kiều tại xóm Bích Câu (Hà Nội), sau hai vợ chồng cưỡi hạc bay lên trời; tại nền nhà cư dân lập đền thờ (gọi là “Bích Câu đạo quán”) tương truyền rất linh thiêng, từng báo mộng cho vua Lê đánh thắng quân Chiêm Thành. Vua Lê Thánh Tông (ở ngôi 1460-1497) có lần đi chơi Hồ Tây đã xướng họa thơ văn cùng một thiếu nữ xinh đẹp rồi đưa lên xe rước về cung, tương truyền nàng chính là tiên nên khi về đến cửa Đại Hưng (nay là cửa Nam, Hà Nội) thì bay lên trời mất. Vua thương nhớ cho cất tại đó một lều gọi là Vọng tiên lâu (nay là “Vọng tiên quán” ở 120B Hàng Bông); người đời đặt tên cho cô là Bồi Liễn tiên nương (= nàng tiên đi cùng xe vua). Đời Lê Thần Tông (ở ngôi 1619-1643 và 1649-1662) có Phạm Viên quê ở Nghệ An lên núi Hồng Lĩnh hái thuốc tương truyền đã gặp tiên học đạo, có tài biết trước hỏa hoạn, biết trước ngày cha từ trần, từng cho một lão ăn mày cây gậy có phép lạ tự xin được tiền để sống…

Thanh Hóa đời Nguyễn đã sưu tầm và ghi lại sự tích 13 ông tiên và 14 bà tiên Việt Nam trong sách Hai chân biên (xuất bản năm 1847).

Giới sĩ phu Việt Nam xưa thường cùng nhau tổ chức phụ tiên (hay cầu tiên, cầu cơ) để cầu hỏi cơ trời, hỏi chuyện thời thế, đại sự cát hung… Nhiều đàn phụ tiên từng nổi danh một thời như đền Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đào Xá (Hưng Yên)… Nhiều nhà Nho nhà cửa khang trang đã lập đàn phụ tiên tại tư gia. Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) khi làm đốc học Ninh Bình thậm chí đã từng lập đàn phụ tiên ngay tại công đường. Đầu thế kỉ XX, các đàn cầu tiên (gọi là thiện đàn) mọc lên khắp nơi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ tinh thần dân tộc và yêu nước, chống Pháp. Nhiều đàn cầu cơ ở miền Nam đã là một trong những tiền đề dẫn đến sự hình thành đạo Cao Đài.

Để lập đàn chỉ cần đặt một án nhỏ trên để một đỉnh đốt trầm, một bình cắm hoa; trước án bày một mâm đựng gạo kín khắp mặt mâm và một cành đào vót nhọn, gọi là hạc bút để viết trên mâm gạo. Một nho sinh sức học tầm thường chỉ cần dù biết viết, đầu phủ khăn điều che kín mặt, tay cầm hạc bút chờ sẵn (gọi là cầm kê). Sau khi đốt hương trầm cầu khấn, nếu có tiên giáng bút thì người cầm kê, đầu vẫn trùm khăn kín, sẽ viết rất nhanh từng chữ, hai người ngồi phụ hai bên sẽ đọc to và chép ra giấy. Nếu có chữ nào đọc sai thì kê bút sẽ gõ vào mâm và viết lại. Cứ thế đến hết bài thơ.

Tương truyền khi người cấu tiên hỏi những việc thuộc thiên cơ mà tiên thánh không thể tiết lộ (công danh, thi cử, đề thi…) thì chỉ sau khi việc xong mới vỡ lẽ rằng nội dung giáng but đã nói rất rõ và chính xác. Nhất Thanh (1973) có kể về trường hợp hai bạn học có tiếng hay chữ ở Thanh Hóa phụ tiên hỏi đề khoa thi Hương thời Thiệu Trị, mãi đến gần sáng đêm thứ hai, tiên thánh mới giáng bút ba chữ “Đông chấn thù” rồi thăng ngay. Hai người suy nghĩ cả tháng trời mà vẫn không hiểu ra sao vì chưa từng gặp ba chữ ấy trong sách vở của Bách gia bao giờ. Đến khi vào thi thấy đề ra là “Đông thú Trần” mới vỡ lẽ, vì nếu giáng là “Đông trấn thù” (trấn và chấn khác nhau cả nghĩa và mặt chữ) thì dã có thể nói lái mà đoán được rồi.

Gần với Đạo giáo thần tiên là khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc. Hầu hết các nhà nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ thường lui về ẩn dật, tìm thú vui nơi thiên nhiên, bên chén rượu, khi cuộc cờ, hay làm thơ xướng họa – sống một cách điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên trong hành chính là một cách dưỡng sinh vậy. Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy ích, Nguyễn Công Trứ… đều là những ví dụ điển hình.

Ở Việt Nam, Đạo giáo như một tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Dấu vết hoạt động cuối cùng của nó là sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm 1933 ở Sài Gòn một bộ sách mang tên Đạo giáo viết theo tinh thần tôn giáo gồm 3 tập. Đến nay, những hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chúng chỉ còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi.


Đối tượng thờ cúng trong một số cơ sở đạo giáo ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

 

Đối tượng thờ cúng trong một số cơ sở đạo giáo ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ hiện nay



PGS.TS. CHU VĂN TUẤN

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Tóm tắt: Hiện nay, ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng đã xuất hiện một số cơ sở Đạo giáo, hay còn gọi là các Đạo quán, nơi thờ cúng các vị thần linh Đạo giáo và thực hành Đạo giáo. Trong số các cơ sở Đạo giáo này, có cơ sở được xây dựng mới, có cơ sở được phát triển từ các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo vốn có, như: trường hợp Đền Bà Chúa Vực, Hưng Yên. Thông qua việc khảo sát các cơ sở Đạo giáo này, bài viết tập trung giới thiệu đối tượng thờ cúng hay các vị thần linh Đạo giáo đang được thờ cúng tại 3 cơ sở, mà không trình bày hệ thống thần linh Đạo giáo nói chung, qua đó góp phần nghiên cứu về thực trạng Đạo giáo ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Đạo giáo; đối tượng thờ cúng; cơ sở/quán Đạo giáo, Đồng bằng Bắc Bộ.

 

Abstract

Currently, in the Red River Delta area appears a number of Taoist facilities, also known as Taoist temples, where worshiping Taoist deities and practices. Some Taoist facilities are new establishments, some are rebuilt based on the religious existing establishments such as Ba Chua Vuc Temple in Hung Yen. Through surveying these Taoist facilities, the article focuses on introducing objects of worship or Taoist deities at three establishments. Thereby, this paper contributes to research on the current situation of Taoism in Vietnam.

Keywords: Taoism; object of worship; Taoist facilities, Taoist temples, Red River Delta.

 

Dẫn nhập

Thời gian gần đây, xuất hiện một số cơ sở thờ tự của Đạo giáo ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Trong số này, có những cơ sở được xây mới hoàn toàn, có cơ sở phát triển từ các cơ sở thờ tự sẵn có[1]. Có thể nói, các cơ sở Đạo giáo này thực sự là những Đạo quán của Đạo giáo mà không thể lẫn với các cơ sở thờ tự khác như đình, đền, miếu, chùa, v.v…Điều đáng nói, các cơ sở này được xây dựng một cách mà theo chúng tôi là khá bài bản từ đối tượng thờ cúng cho đến cách bài trí và việc thực hành nghi lễ. Đây là một hiện tượng mà chúng tôi cho rằng rất đáng nghiên cứu. Bởi việc xuất hiện các cơ sở thờ tự Đạo giáo trong thời gian qua mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Trước hết, điều đó cho thấy sự phục hồi của Đạo giáo, vốn là một tôn giáo được du nhập lâu đời vào Việt Nam nhưng hầu như chỉ tồn tại trong các sinh hoạt và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà không tồn tại giống các tôn giáo có tổ chức giáo hội, như Phật giáo hay Công giáo…. Các đạo quán trước đây đã bị chuyển thành đền, chùa, đình… từ lâu cho nên hầu như, rất ít người hình dung được một đạo quán như thế nào, đối tượng thờ cúng ra sao, các nghi lễ diễn ra như thế nào, v.v.. Tiếp nữa, sự xuất hiện các cơ sở Đạo giáo thời gian qua đã cho thấy hiện tượng chuyển biến từ Đền thành Đạo quán, như trường hợp của Đền Bà Chúa Vực. Đây chắc chắn là những chủ đề nghiên cứu thú vị. Đồng thời, việc xuất hiện các cơ sở Đạo giáo nói trên cũng đặt ra những vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Dựa trên việc khảo sát 3 cơ sở của Đạo giáo ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay là: Sơn Nam quán (Đền Bà Chúa Vực), Quán Tam Quan và Lương Sơn tiên quán[2], chúng tôi bước đầu phác họa về đối tượng thờ cúng tại 3 cơ sở này, đồng thời đưa ra một số so sánh, nhận xét về đối tượng thờ cúng và cách bài trí tại 3 cơ sở nêu trên.

1. Khái lược một số Đạo quán ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

Lương Sơn tiên quán

Đạo quán có địa chỉ tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình, cách Hà Nội khoảng 45 km. Lương Sơn tiên quán do tu sỹ Nguyễn Tông Nhuệ, một trong số rất ít các vị tu sỹ Đạo giáo ở Việt Nam hiện nay sáng lập và xây dựng. Đạo quán này được hình thành cách đây 2 năm và hiện vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Khác với một số đạo quán khác, nơi bài trí các đối tượng thờ cúng tại Lương Sơn tiên quán là các khu vực trong hang động. So với Sơn Nam quán (Đền Bà Chúa Vực) và Tam Quan quán thì có thể nói Lương Sơn tiên quán có không gian thờ cúng rộng rãi, chính vì vậy, các đối tượng thờ cúng cũng phong phú, đa dạng hơn. Trong chuyến điền dã của chúng tôi vào ngày 12/9 vừa qua, Lương Sơn tiên quán đang xây dựng ban thờ Bà Chúa Thượng Ngàn. Cụ thể, việc bài trí ở đây như sau:

Thanh Linh động: đây được xem là chính điện, là nơi thờ tự nhiều vị thần linh: hàng trên cùng là 3 vị Tam Quan tức là Hạ Nguyên giải ách Thủy Quan (Thủy Quan), Thượng Nguyên ban phúc Thiên Quan (Thiên Quan) (Lễ Thượng Nguyên), Trung Nguyên xá tội Địa Quan (gọi tắt là Địa Quan) (Lễ Trung Nguyên, rằm tháng 7); hàng thứ hai gồm có các vị: Thái Bạch Kim Tinh, Táo Quân, Dược Vương Tiên Y, Lỗ Ban; hàng thứ 3 gồm có Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương, tiếp theo là các vị Nam Tào, Bắc Đẩu, Thái Âm Tinh Quân, Thái Dương Tinh Quân, Liễu Hạnh Công Chúa, Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Tứ Trực Công Tào (cai quản ngày giờ và 4 mùa xuân, hạ, thu, đông), Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ.

Diêu Trì cung: hàng trên cùng thờ Kim Tây Vương Mẫu tương truyền là vợ của Ngọc Hoàng Thượng Đế, Cửu Thiên Huyền Nữ (tương truyền là em gái thứ nhất của Ngọc Hoàng), Hoàng Thiên Hậu Thổ (tương truyền là em gái thứ hai của Ngọc Hoàng). Hàng thứ hai thờ Bà chúa Thượng Ngàn, Liễu Hạnh công chúa và Quan Âm Đại Sỹ Từ Hàng Chân Nhân.

Động Tam Thanh: đây là nơi thờ cúng nhiều vị thần linh Đạo giáo. Trấn giữ ngoài cửa là bức tượng Vương Linh Quang với tạo hình tóc đỏ, râu đỏ; tiếp theo là tượng của Thái Ất Chân Nhân; Ban thờ Võ Tài Thần Trần Triều; ban thờ Tam Thanh (gồm 3 vị Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh); Ban thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế ở chính giữa, hàng trên cùng, bên cạnh có tiên đồng, ngọc nữ; các hàng phía trước có tượng của Tây Vương Mẫu, Đông Hoa Đế Quân, Đẩu Mẫu Nguyên Quân, Thái Ất Thiên Đế, Thái Bạch Kim Tinh; Ban thờ Hoàng Thiên Hậu Thổ: chính giữa là tượng của Hoàng Thiên Hậu Thổ, hai bên cạnh là tượng Khố Cung Thần và Chúa Kho Ngân Khố.

Ngoài ra, các đối tượng thờ cúng ở Lương Sơn tiên quán còn được bài trí ở các nơi như Động Quan Âm (nơi thờ Quan Âm Đại Sỹ Từ Hàng Chân Nhân), Tứ Ngự Cung (thờ 4 vị: Tử Vi Đại Đế, Trường Sinh Đại Đế, Câu Trần Đại Đế, Hoàng Thiên Hậu Thổ), nơi thờ Thần Nông Viêm Đế, Huyền Thiên Trấn Vũ, Tháp Văn Xương, Mạnh Bà Thần, Địa phủ, Miếu Thành Hoàng, Ban thờ Thổ Địa, Sơn Thần, Long Vương Cung, v.v..

Sơn Nam quán (Đền Bà Chúa Vực)

Đạo Quán Sơn Nam – Đền Bà Chúa Vực có địa chỉ tại Thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, nằm trong khu du lịch Sơn Nam Plaza cách Hà Nội khoảng 40 km. Ban đầu, đây là Đền Bà Chúa Vực nơi thờ tự Thiên phi Linh Uyên Thánh Mẫu Thủy Cung (người dân quen gọi là bà Chúa Vực vì có công giúp dân trị thủy) vốn có từ lâu đời. Sau này[3] được phát triển, phối thờ các vị thần linh Đạo giáo nên được gắn thêm tên Sơn Nam quán. Cụ thể, cách bài trí đối tượng thờ cúng tại Sơn Nam quán như sau:

Ban thờ Thiên Phi Linh Uyên Thánh Mẫu Thủy cung (Bà Chúa Vực) được xem như thần chủ của đền/quán. Ban thờ Đẩu Mẫu Nguyên Quân có tượng Đẩu Mẫu Nguyên Quân tạo hình khá giống Bồ Tát với 8 cánh tay, hai cánh tay phía trước trong tư thế Bồ Tát chuẩn đề, hai bên cạnh là tượng Cửu Tinh Đại Đế và Thất Tinh Bắc Đẩu. Ban thờ 3 vị Tam Quan: Hạ Nguyên giải ách Thủy Quan (Thủy Quan), Thượng Nguyên ban phúc Thiên Quan (Thiên Quan) (Lễ Thượng Nguyên), Trung Nguyên xá tội Địa Quan (gọi tắt là Địa Quan) (Lễ Trung Nguyên, rằm tháng 7).

Ban thờ Ngọc Hoàng thượng đế, hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu, phía trước có tượng Hùng Vương Thánh tổ; Ban thờ Đức Thánh Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương được bài trí trang trọng, phối thờ với nhiều vị quan của triều Trần; Ban thờ Thái Bạch Kim Tinh Tài Bạch Khố Cung Thần; Ban thờ Tứ Bất Tử; Ban thờ Thái Dương Tinh Quân; Thái Âm Tinh Quân; Ban thờ Chúa Sơn Trang; Ban thờ Văn Xương Đế Quân; Ban thờ Thổ địa (ở phía ngoài), Thành Hoàng (Thiên Hạ Long Đô Thành Hoàng Đại Vương[4]) (ở ngoài); Ban thờ Đệ nhất phẩm Ông Hoàng Mười Quan (bên trái), Đệ nhị phẩm Ông Hoàng Bảy Quan (bên phải), chính giữa là Đệ tam phẩm Ông Hoàng Bơ Quan; phía trước có ngũ hổ; Ban thờ Thái Ất Chân Nhân Thập phương cứu khổ Thiên Tôn; Ban thờ Táo Vương phủ; Ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ; Ban thờ Hoàng Thiên Hậu Thổ; Ban thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Tả Ao Tiên sinh, v.v.. Đặc biệt, trong Sơn Nam quán có thờ Bác Hồ.

Đông Nhạc cung (Thập điện Diêm Vương) được bố trí riêng một gian bên cạnh. Bài trí của Đông Nhạc cung như sau: Chính giữa là tượng Đông Nhạc Đại đế với bàn tính thần, hai bên có Âm Dương sư và Phong Đô đại vương, hai bên cạnh là thập điện Diêm Vương, từ số 1 đến số 10.

Ngoài ra, có các bức tranh của Trương Thiên Sư, Lỗ Ban tổ sư, Dược Vương Tiên Y, Vương Linh Quang, Trấn Vũ Đại Đế, Tứ Đại Nguyên Soái, Thủy Thần, Hỏa Thần, các bức tranh các sao, như: La Hầu, Kế Đô, … các bức tranh lục thập hoa giáp[5], v.v..

Tam Quan quán

Quán có địa chỉ tại xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, Hà Nội. So với 2 đạo quán nói trên, Tam Quan quán có diện tích nhỏ hơn, tuy nhiên, về đối tượng thờ cúng thì cũng khá đầy đủ và khá tương đồng với hai đạo quán nói trên. Trong chính điện, ở giữa là tượng ba vị Tam Quan, phía trước 3 vị Tam Quan là Tứ Trực Công Tào; Ban thờ Đẩu Mẫu Nguyên Quân, bên cạnh có Bắc Đẩu Thất Tinh và Cửu Tinh Đại Đế[6]; Ban Đông Nhạc Đại đế với Bàn tính thần[7]; Tiếp theo là tượng thờ các vị Dược Vương Tiên Y, Thái Ất Chân Nhân, Táo Vương, Trương Thiên Sư, Võ Tài Thần, Trấn Vũ Đại Đế, Thần Nông Viêm Đế, Lỗ Ban Tổ sư, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thái Bạch Kim Tinh, Văn Xương Đế Quân, Thái Thượng Lão Quân[8], Hoàng Thiên Hậu Thổ, v.v.. Ngọc Hoàng Thượng Đế được thờ ở một ban trang trọng; ngồi cùng hàng với Ngọc Hoàng là Tây Kim Vương Mẫu[9]; ban thờ Ngọc Hoàng có phối thờ các vị thần linh khác, như: Hùng Vương Thánh Tổ, Tứ Bất Tử. Mặc dù ban thờ Ngọc Hoàng đã phối thờ Tứ Bất Tử, nhưng Liễu Hạnh Công Chúa lại được thờ riêng một ban với tiên đồng, ngọc nữ bên cạnh. Ngoài ra còn có ban thờ Thành Hoàng Đại Vương, Thổ địa, v.v…

2. Về vị trí và chức năng của các đối tượng thờ cúng tại 3 cơ sở đạo giáo này

Qua nội dung vừa trình bày ở trên, chúng ta đã thấy được các đối tượng đang được thờ cúng hay hệ thống thần linh tại 3 cơ sở Đạo giáo mà bài viết đề cập. Trong phần tiếp theo, bài viết giới thiệu về vị trí, vai trò, chức năng của các đối tượng này nhưng không đi sâu trình bày về nguồn gốc của các đối tượng đó, nội dung này sẽ dành cho những nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi.

Tam Thanh (hay còn gọi là Tam Thanh Lão Tổ): Đây là tên gọi tắt của 3 vị: Ngọc Thanh Nguyên thủy Thiên Tôn (Ngọc Thanh), Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn (Thượng Thanh), Đạo Đức Thiên Tôn (Thái Thanh hay chính là Thái Thượng Lão Quân). Cần lưu ý, Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử. Nguyễn Duy Hinh trong Người Việt Nam với Đạo giáo đã viết: “Thái Thanh cung là nơi thờ Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử, hay còn gọi Đạo Đức Thiên Tôn”[10]. Tam Thanh là 3 vị thần linh tối cao của Đạo giáo, đại diện cho cõi vô sắc giới. Trong 3 vị này, Ngọc Thanh đứng đầu, đây là vị được xem là có trước vạn vật, xuất hiện khi vũ trụ còn trong trạng thái “hỗn độn”. Trong bài viết của mình, Phan Văn Các dẫn Chân linh vị nghiệp đồ của Đào Hoằng Cảnh cho rằng cấp độ cao nhất của các vị thần linh Đạo giáo chính là Nguyên thủy Thiên Tôn. Tương truyền Ngài “sinh trước Thái Nguyên, bẩm thụ cái khí của tự nhiên, xông đến cõi không, ngưng ở cõi xa, không ai biết đâu là cùng cực”[11]. Cũng trong Chân linh vị nghiệp đồ của Đào Hoằng Cảnh, Thái Thượng Lão Quân được xếp ở cấp độ thứ tư và được xem chính là Lão Tử.

Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong các đạo quán, Ngọc Hoàng thường được thờ ở một ban riêng biệt, bên cạnh tượng Ngọc Hoàng thường có tiên đồng, ngọc nữ đứng hầu bên cạnh. Trong Đạo giáo, Ngọc Hoàng Thượng Đế có vai trò cai quản các vị thần linh cả tam giới: cõi trời, cõi người và địa phủ. Mọi hoạt động của con người khi sống và sau khi chết đều do Ngọc Hoàng quyết định. Thế nhưng, có quan điểm lại cho rằng, Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản mọi vật, nhưng vị thần này chỉ được nhắc đến tên mà không có vai trò gì[12].

Tứ Ngự: bao gồm Tử vi Đại đế, Trường Sinh Đại Đế, Câu Trần Đại Đế, Hoàng Thiên Hậu Thổ. Trong Người Việt Nam với Đạo giáo, Nguyễn Duy Hinh cho rằng: “Tứ Ngự là tên thần Đạo giáo. Đó là 4 vị thiên đế phò tá Tam Thanh trong Thiên giới Đạo giáo. Tên đầy đủ của các vị đó là: Một, Hạo thiên kim khuyết chí tôn Ngọc Hoàng đại đế; hai, Trung thiên tử vi bắc cực Thái Hoàng đại đế; ba, Câu trần thượng cung nam cực Thiên Hoàng đại đế; bốn, Thừa thiên hiệu pháp Hậu Thổ hoàng địa kỳ”[13]. Như vậy, 4 vị trong tứ ngự đang được thờ phụng ở các quán đạo giáo hiện nay có khác so với quan điểm của Nguyễn Duy Hinh cũng như một số nhà nghiên cứu khác.

Thần Nông Viêm Đế, đây là một vị thần được tôn thờ với vai trò dạy dân săn bắn, trồng trọt cũng như các nghề nghiệp khác. Tại đền Sơn Nam quán, Thần Nông Viêm Đế được tạo hình từ một tảng đá trong tư thế nằm, được đặt ở sân trước của đền. Còn tại Lương Sơn tiên quán, thần được tạo hình trong tư thế ngồi, bên cạnh là các loài hươu nai. Trong khi đó, tại Tam Quan quán, Thần Nông Viêm Đế được tạo hình bức tượng ngồi tay cầm bông lúa.

Hùng Vương Thánh Tổ, là vị vua lập nên nhà nước Văn Lang, mở đầu cho lịch sử 4000 năm dựng nước, giữ nước của dân tộc. Ngày nay, việc thờ cúng Hùng Vương đã trở thành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và ngày giỗ của Hùng Vương đã trở thành Quốc giỗ, thể hiện truyền thống và đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn thờ những người có công với dân tộc. Tại các đạo quán, tượng Hùng Vương Thánh Tổ và nơi thờ tự được bày trí trang trọng. Tại Lương Sơn tiên quán, tượng Hùng Vương được đắp nổi trên vách núi.

Đức Thánh Trần (Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn), vị anh hùng dân tộc thời Trần. Sau khi ông mất đã được các triều đại phong kiến Việt Nam phong thần, được nhân dân trên cả nước thờ phụng tại nhiều cơ sở khác nhau, như: đình, đền, miếu, chùa,… đồng thời, ông cũng trở thành một vị thần của Đạo giáo, được thờ trong các quán đạo giáo ở Việt Nam. Trong các đạo quán, ban thờ Đức Thánh Trần được đặt ở vị trí trang trọng, được phối thờ với các vị Yết Kiêu, Dã Tượng. Đặc biệt, tại Lương Sơn tiên quán, Đức Thánh Trần không chỉ được thờ phụng với ý nghĩa của một vị thần linh có vai trò hộ quốc an dân, mà còn được thờ với ý nghĩa là một vị tài thần. Ban thờ Võ Tài Thần Trần Triều được bài trí trong động Tam Thanh, với bức tượng Võ Tài Thần Trần Triều Cửu Thiên Vũ Đế cưỡi con sư tử trắng, hai bên có Yết Kiêu và Dã Tượng, phía trước có tượng của 4 vị quan, ngũ hổ.

Tứ Bất tử: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong cả 3 đạo quán chúng tôi khảo sát, Tứ Bất tử đều thấy xuất hiện. Trong Tứ bất tử, Tản Viên Sơn Thánh tượng trưng cho sức mạnh và khát vọng chiến thắng thiên tai; Phù Đồng Thiên Vương tượng trưng cho tinh thần bất khuất và sức mạnh chiến thắng giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử tượng trương cho tình yêu còn Thánh Mẫu Liễu Hạnh là biểu tượng của sự giải phóng người phụ nữ. Tứ Bất tử đã được các triều đình phong kiến phong thần và được thờ phụng ở rất nhiều cơ sở thờ tự cũng như ở các vùng miền khác nhau trên cả nước.

Đông Nhạc Đại Đế, đây là vị thần cai quản địa ngục, được tạo hình gắn với bàn tính để tính toán số mệnh con người. Dưới quyền của Đông Nhạc Thánh Đế có 10 vị Diêm Vương cai quản 10 cửa địa ngục.

Quan Âm Đại Sỹ Từ Hàng Chân Nhân, đây là vị thần linh được tạo hình như Quan Thế Âm Bồ Tát, được thờ riêng với tiên đồng, ngọc nữ đứng hầu bên cạnh với vai trò cứu khổ, cứu nạn, che chở cho con người.

Vương Linh Quang, đây được xem như vị Hộ pháp, thường đứng phía trước cửa đạo quán với vai trò bảo vệ.

Huyền Thiên Trấn Vũ, đây là một vị thần chủ phương Bắc, có công lao trong việc phò trợ các đời vua diệt yêu tinh, xây thành, đánh giặc, chính vì vậy Thần có vai trò và chức năng quan trọng là bảo vệ triều đình, sự bình an của người dân, trừ yêu tà, quỷ thần, v.v…

Trương Đạo Lăng, là người sáng lập Ngũ Đấu Mễ đời vua Hán Thuận Đế, sau được tôn là Trương Thiên Sư, ông tổ của phái Chính Nhất giáo. Chính Nhất giáo cùng với Toàn Chân giáo (do Vương Trọng Dương sáng lập) là hai phái Đạo giáo lớn ở Trung Quốc có chủ trương khác nhau. Nếu như Toàn Chân giáo chú trọng tọa thiền, thì Chính Nhất giáo lại chú trọng phù lục và ngoại đan[14].

Ngoài ra, các đạo quán trong phạm vi nghiên cứu của bài viết còn thờ rất nhiều vị khác với các chức năng phù trợ về học hành, nghề nghiệp, tiền tài, sức khỏe, bình an, cứu khổ cứu nạn… như: Thái Ất Chân Nhân, Văn Xương Đế Quân, Thái Âm Tinh Quân, Thái Dương Tinh Quân, Lỗ Ban Tổ Sư, Dược Vương Tiên Y, Long Vương, Mạnh Bà Thần, Long Đỗ Thành Hoàng, Sơn Thần, Thổ Thần, Bà Chúa Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang, các ông hoàng (ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Bơ,…), v.v… Theo lời của một vị tu sỹ Đạo giáo tại Lương Sơn tiên quán cho biết Đạo giáo thờ rất nhiều các vị thần linh sắp xếp theo hệ thống như Thái Thượng Lão quân, dưới là Ngọc Hoàng, Thần Nông Viêm Đế, Hùng vương Thánh Tổ, Tứ Bất tử, Tứ Trấn…  thờ Tổ tiên, Thổ địa, Thành Hoàng, Táo Vương, … thờ các vị tổ sư, tổ sư nghề mộc, nghề may, xây dựng, y, võ thuật; Đạo giáo còn thờ các vì sao, v.v…[15].

3. Một số nhận xét về đối tượng thờ cúng tại các cơ sở Đạo giáo

Qua trình bày ở trên cho thấy, đối tượng thờ cúng, hay hệ thống thần linh của Đạo giáo vô cùng phong phú, đa dạng, bao gồm cả những nhiên thần và nhân thần, trong đó có những vị là truyền thuyết, nhưng có những vị là anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước, sau khi mất được nhân dân thờ cúng, được các triều đại phong kiến phong thần. Có những vị có nguồn gốc Trung Quốc (như Trương Thiên Sư), có những vị là thần linh, là anh hùng dân tộc của Việt Nam. Sự phong phú của các đối tượng thờ cúng tại các cơ sở Đạo giáo nói trên về nguồn gốc, chức năng cho thấy sự dung hợp của nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhất là các tôn giáo truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tài, tín ngưỡng thờ tổ nghề, v.v… Qua chi tiết Bác Hồ được đưa vào hệ thống thần điện Đạo giáo đã cho chúng ta thấy hệ thống thần linh Đạo giáo được bồi đắp liên tục qua thời gian, đây là một đặc điểm cần lưu ý khi nghiên cứu sự phát triển của hệ thống thần linh Đạo giáo Việt Nam.

Theo tác giả Phan Ngọc trong bài viết Đạo giáo đã cho rằng, Đạo giáo đã xây dựng một thiên đình hết sức độc đáo. Thiên đình Đạo giáo gồm có các thiên thần, địa kỳ, các tiên nhân, các nhân quỷ. Các thiên thần gồm Tam Thanh, Tứ Ngự, Tam Cung, Mặt Trăng, Mặt Trời, các sao, các thần: Gió, Mưa, Sấm, Chớp. Mỗi tên như vậy chỉ một nhóm thần. Tam Thanh bao gồm Ngọc Hoàng, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thượng Thanh hay Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử, người thực tế cầm đầu đạo giáo. Ngũ vương Lão quân là năm ông vua ở năm phương: Thanh đế, Xích đế, Hoàng đế, Bạch đế, Hắc đế tương ứng với các phương trong ngũ hành. Tứ ngự gồm 4 vị thần: Ngọc Hoàng Đại đế trông coi đạo trời của Đạo giáo, Thiên Hoàng Đại đế trông coi các ngôi sao, Mặt Trăng, Mặt Trời, sự vận hành của bốn mùa, Hậu thổ trông coi âm dương, sự sinh sản của vạn vật.

Các địa kỳ bao gồm Thổ địa, các thành hoàng, các thần xã tắc, Ngũ nhạc (năm ngọn núi nổi tiếng), Tứ độc (bốn con sông dài nhất), các thần núi, thần sông. Các tiên nhân và nhân quỷ bao gồm các Tiên thánh, Tiên tổ, Tiên sư, những người có công đức ở nhân gian, các đạo sỹ đã tu luyện thành tiên, trong đó có 8 vị tiên thường được vẽ là: Lý Thiết Quày, Hán Chung Ly, Trương Lão Quả, Hà Tiên Cô, Lam Thái Hòa, Lã Đồng Tân, Tào Quốc Cậu[16].

Như thế có thể thấy, hệ thống thần linh Đạo giáo rất phong phú, đa dạng phản ánh tín ngưỡng đa thần của cư dân nông nghiệp, sinh sống trong khu vực địa lý có những điều kiện tự nhiên đa dạng về hệ sinh vật, khí đậu, môi trường, v.v.. Tuy nhiên hệ thống này không phải được sắp xếp một cách tùy tiện, mà theo những hệ thống nhất định. Như trong bài viết của Phan Văn Các mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên, đạo sỹ Đào Hoằng Cảnh (456-536) thời Nam Bắc triều đã đưa ra sách Chân linh vị nghiệp đồ nhằm hệ thống hóa các vị thần linh Đạo giáo. Trong sách này, Đào Hoằng Cảnh đã tập hợp và hệ thống được 700 vị thần tiên của nhiều nhánh phái Đạo giáo khác nhau với 7 cấp bậc, mỗi bậc có một vị thần cai quản[17], hệ thống này sau đã được bổ sung, phát triển qua các giai đoạn, có những vị được bổ sung vào nhưng có những thần linh luôn duy trì vị trí và chức năng trong hệ thống này.

Qua khảo sát 3 đạo quán, chúng tôi nhận thấy, cách bài trí và các đối tượng thờ cúng khá giống nhau. Cách tạo hình các đối tượng thờ cúng khá giống nhau cho thấy vị trí, vai trò của các vị thần linh về cơ bản là khá thống nhất trong cả 3 cơ sở thờ tự và về cơ bản, cả 3 cơ sở đạo giáo này đều có các đối tượng thờ cúng phụ trách tại cõi trời, cõi người và địa phủ. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi việc xây dựng, bài trí các đối tượng thờ cúng ở các cơ sở này đều do tu sỹ Nguyễn Tông Nhuệ thực hiện. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, cũng có một số khác biệt nhỏ giữa các đạo quán nói trên. Trước hết, nếu như Tam Quan quán và Sơn Nam quán đều thờ Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng), ông tổ phái Chính Nhất của Đạo giáo thì Lương Sơn tiên quán – cơ sở được xây dựng sau – không có tượng thờ của Trương Thiên Sư. Trong khi Tam Quan quán và Sơn Nam quán bài trí, phối thờ các vị thần linh có nguồn gốc Trung Quốc và Việt Nam, thì Linh Sơn tiên quán chú trọng bài trí các vị thần linh có nguồn gốc Việt Nam trong các ban/điện thờ riêng. Việc tạo hình các đối tượng thờ cúng ở Lương Sơn tiên quán theo chúng tôi là mang màu sắc Việt Nam hơn so với Tam Quan quán và Sơn Nam quán.

Khi so sánh các tài liệu mà bài viết đã đề cập trên đây với những đối tượng thờ cúng tại các quán Đạo giáo cho thấy có sự chưa thống nhất. Trước hết, Phan Văn Các thì cho rằng Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử, nhưng ở 3 quán Đạo giáo mà bài viết đề cập, Lão Tử chỉ là một trong những hiện thân của Thái Thượng Lão Quân. Giữa quan điểm của Phan Ngọc và Phan Văn Các cũng có sự khác nhau về tên hiệu của Thái Thượng Lão quân. Phan Văn Các cho rằng là Thái Thanh, trong khi Phan Ngọc cho rằng Thượng Thanh[18], trong khi đó, ở các quán đạo giáo là Thái Thanh (Đạo đức thiên Tôn).

Một điểm khác biệt nữa là vị trí của Ngọc Hoàng Thượng Đế (hay Ngọc Hoàng Đại Đế). Trong Lương Sơn tiên quán, Ngọc Hoàng không thuộc hàng Tứ Ngự, trong khi đó, theo Lê Thị Chiêng, trong Đạo giáo, Ngọc Hoàng thuộc hàng Tứ Ngự, có nhiệm vụ cai quản chư thiên[19]. Điều này cũng tương tự như quan niệm của Trung Quốc khi cho rằng Ngọc Hoàng Thượng Đế thuộc hàng Tứ Ngự và có vị trí cao nhất trong hàng Tứ Ngự[20].

Tạm kết

Qua khảo sát về đối tượng thờ cúng và việc bài trí các đối tượng này ở 3 đạo quán hiện nay, chúng ta thấy đối tượng thờ cúng của Đạo giáo vô cùng phong phú, đa dạng bao trùm ở các không gian thời gian, lĩnh vực khác nhau, qua đó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt. Trước hết, có ban thờ các vị thần linh ở cõi Trời: các ban thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và các vị cai quản cõi Trời; có ban thờ các vị thần linh cõi người: như ban thờ các vị anh hùng dân tộc được phong thần, được tôn làm thánh như ban thờ Đức Thánh Trần; có ban thờ các vị thần linh địa phủ: ban thờ Đông Nhạc Thánh Đế, 10 vị Diêm Vương; có các ban thờ và các vị thần cai quản vùng rừng: Ban thờ bà chúa Thượng Ngàn; có ban thờ các vị thần linh cai quản vùng nước: Ban thờ Long Vương…. Hệ thống đối tượng thờ cúng tại 3 cơ sở Đạo giáo với vị trí, vai trò, chức năng khác nhau có thể nói bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ cấp độ cá nhân, cộng đồng, đến quốc gia, dân tộc.  Điều này góp phần thỏa mãn những nhu cầu mang tính hiện sinh của con người, trong vòng đời từ khi sinh ra, lớn lên, cho đến lúc qua đời.

Có thể nói, các đối tượng thờ cúng trong các cơ sở Đạo giáo cho chúng ta thấy quan niệm của người Việt về thế giới, về cuộc đời con người và về cuộc sống sau khi chết. Đây là những quan niệm vừa cao siêu về sự hình thành và vận hành của vũ trụ, vừa hết sức thực tế về những nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của con người như học hành, thi cử, sản xuất, kinh doanh, chữa bệnh tật, sinh con, dựng vợ gả chồng, v.v.. Qua nghiên cứu việc bài trí các đối tượng thờ cúng trong các cơ sở Đạo giáo hiện nay cho thấy rất rõ triết lý, truyền thống thờ cúng/tôn thờ Tổ tiên, uống nước nhớ nguồn, biểu hiện bằng việc thờ cúng Thần Nông Viêm Đế, vị thần có công dạy tổ tiên con người trồng trọt, săn bắn; bằng việc thờ cúng Hùng Vương Thánh Tổ, tổ tiên của dân tộc Việt Nam; bằng việc thờ cúng các anh hùng dân tộc có công với đất nước như Hưng Đạo Đại vương, v.v…

Trong quá khứ, quá trình bản địa hóa/Việt Nam hóa các tín ngưỡng, tôn giáo ngoại lai luôn diễn ra và điều này trở thành một đặc điểm quan trọng của văn hóa Việt Nam. Khi nghiên cứu việc bài trí các đối tượng thờ cúng tại 3 cơ sở Đạo giáo nêu trên, nhất là tại cơ sở Lương Sơn tiên quán chúng ta thấy chiếm đa số là các vị thần thánh Việt Nam. Ngoài ra, việc tạo hình các đối tượng thờ cúng cũng cho thấy bản sắc Việt Nam rõ nét. Điều đó tiếp tục khẳng định tính chất bản địa hóa/Việt Nam hóa của Đạo giáo Việt Nam khi đề cao các vị thần thánh Việt Nam, nhất là Hùng Vương Thánh Tổ, Đức Thánh Trần, Tứ Bất Tử, v.v.. trong thần điện của Đạo giáo.

Ngoài ra, qua hệ thống thần linh được thờ phụng cũng như tạo hình cho thấy có sự giao thoa, dung hợp giữa các vị thần linh Đạo giáo với Phật giáo. Đó là tượng Quan Âm Đại Sỹ Từ Hàng Chân Nhân (Bà Chúa Ba) hay Đẩu Mẫu Nguyên Quân được tạo hình như vị Phật nghìn tay nghìn mắt. Điều thú vị là, tượng Đẩu Mẫu Nguyên Quân được tạo hình với 8 cánh tay, hai cánh tay phía trước tạo hình chuẩn đề cho chúng ta liên tưởng tới sự giao thoa, dung hợp với Phật giáo Mật tông. Ngoài ra, các đối tượng thờ cúng tại các cơ sở Đạo giáo đã cho chúng ta thấy sự hỗn dung mạnh mẽ các loại hình tín ngưỡng truyền thống rất phong phú, đa dạng như bài viết đã trình bày ở trên.

Cuối cùng, việc xuất hiện các cơ sở Đạo giáo như bài viết đã trình bày cho thấy xu hướng phục hồi của Đạo giáo thời gian qua. Không chỉ có sự xuất hiện của các cơ sở Đạo giáo mà bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của những người thực hành Đạo giáo chuyên nghiệp – đây là những yếu tố căn bản nhất của một hoạt động tôn giáo. Sự phát triển tiếp theo của Đạo giáo Việt Nam, của các cơ sở Đạo giáo vừa được phục hồi, xây dựng mới như thế nào vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết từ nhiều góc độ cả chính quyền, người dân, giới nghiên cứu khoa học, cũng như chính những người thực hành Đạo giáo. Làm sao để phát triển Đạo giáo, phát huy được những giá trị của Đạo giáo, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời tránh những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo này để trục lợi là một vấn đề đặt ra đối với tất cả chúng ta. /.

 


CHÚ THÍCH:

* Bài viết trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ: Đạo giáo ở Việt Nam: Lịch sử, hiện trạng và xu hướng phát triển (Nghiên cứu trường hợp người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ) do Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện.

1. Như trường hợp Sơn Nam quán – Đền Bà Chúa Vực.

2. Tên Lương Sơn tiên quán là do những người sáng lập đặt ra, nằm trong khuôn viên của gia đình và chưa phải là tên đăng ký chính thức với tư cách là một cơ sở tôn giáo.

3. Khoảng chục năm trở lại đây.

4. Chúng tôi cho rằng là Long Đỗ Đại Vương.

5. Mỗi một năm được gán cho 1 vị tướng, chẳng hạn năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Đại Tướng quân, năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Đại tướng quân (Tài liệu điền dã của tác giả).

6. Ở bên trái 3 vị Tam Quan.

7. Ở bên phải 3 vị Tam Quan.

8. Tượng Thái Thượng Lão Quân được bài trí ở bên ngoài trời.

9. Tương truyền là vợ của Ngọc Hoàng.

10. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 485.

11. Phan Văn Các (2001), Tìm hiểu Đạo giáo và phả hệ thần tiên, Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, tr. 24-25.

12. Phan Ngọc (2000), Đạo giáo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr. 14.

13. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 487.

14. Xem Chu Xuân Giao (2020), Đạo giáo thời Bắc thuộc: tổng quan, con đường du nhập và giáo phái chính yếu, Nghiên cứu Tôn giáo, số 7, tr. 87.

15. Tư liệu điền giã của tác giả năm 2019 và 2020.

16. Phan Ngọc (2000), Đạo giáo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr. 14.

17. TS. Vũ Hồng Vận (2017), Đạo giáo và những biểu hiện trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 36.

18. Phan Ngọc (2000), Đạo giáo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr. 14.

19. Lê Thị Chiêng (2003), Linh Tiên quán – nơi tam giáo đồng nguyên, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr. 54.

20. Mã Thư Điền (1996), Trung Quốc Đạo giáo chư thần, Nxb. Đoàn Kết, Bắc Kinh (tiếng Trung), tr. 15.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Văn Các (2001), Tìm hiểu Đạo giáo và phả hệ thần tiên, Nghiên cứu Tôn giáo, số 1.

2. Lê Thị Chiêng (2003), Linh Tiên quán – nơi tam giáo đồng nguyên, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3.

3. Mã Thư Điền (1996), Trung Quốc Đạo giáo chư thần, Nxb. Đoàn Kết, Bắc Kinh (tiếng Trung)

4. Chu Xuân Giao (2020), Đạo giáo thời Bắc thuộc: Tổng quan, con đường du nhập và giáo phái chính yếu, Nghiên cứu Tôn giáo, số 7.

5. Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

6. Vũ Ngọc Khánh (2006), Đạo Thánh ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội.

7. Phan Ngọc (2000), Đạo giáo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3.

8. Nguyễn Khắc Thuần (2012), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb. Thông tin, Hà Nội.

9. Tư liệu điền dã của tác giả năm 2019 và 2020.

10. Vũ Hồng Vận (2017), Đạo giáo và những biểu hiện trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

11. Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2020), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đạo giáo Việt Nam – Lịch sử du nhập và phát triển, tháng 9/2020, Hà Nội.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 09 (201), 2020, 82-87

TỬ VI ĐẨU SỐ ĐẠO GIÁO phần 2

 


  1. Tiên Tông Phái

NGƯỜI Sáng lập Tiên tông phái là CHÍNH HUYỀN SƠN NHÂN, pháp hiệu là HUYỀN CHÂN TỬ, là người Miêu lật, tự xưng là có Linh tu (linh Thần dựa vào mà dạy) mà học được Tử Vi Đẩu Số! Ông còn học với LƯ SƠN TIÊN TÔNG ĐẠO TRƯỞNG. Các sách của ông gồm có:

  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Đại Lưu Niên Pháp Quyết Yếu
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tật Nạn Tử Vong Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa
  • Thiên Địa Nhân Bàn Chân Cơ
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tâm Linh Học Áo Bí Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tiên Thiên Mệnh Cách Cuộc Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Bí Giải
  • Thiên Địa Nhân Hôn Nhân, Luyến Ái Chuyên Luận
  • Thiên Địa Nhân Linh Điện Sinh Hóa Tam Giới Nhân Quả Huyền Uẩn

Trong đó quyển ” Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Phi tinh Kỳ phổ bí truyền ” được coi là ” tinh hoa ” của môn phái, quyển này nói rằng đã đưa ra rất nhiều những kiến giải chưa từng được ai đề xuất!!! Cách hành văn trong những bộ sách này chứa đầy những thuật ngữ và luận điệu của Đạo giáo, Chính huyền sơn nhân còn có phương pháp Bài Bàn theo Nhuận nguyệt, dùng Thiên số của Tháng trước Tháng Nhuận và xuất sinh Nhật số cùng với Tử vi định vị Công thức mà tính ra được lá số chính xác, ông chủ trương Tinh – Bình hội tham, nói rằng như vậy mức dự đoán có thể chính xác đến 75%, ông tuyên bố mình thuộc giới Địa Tiên, và ở Đài loan thì chiếm địa vị Thứ Nhất trong giới Thuật số!!!

Về những Kiến giải trong bộ ” Tử Vi Đẩu Số Phi tinh Kỳ phổ bí truyền ” gồm có:

  • 12 Trường sinh Tứ hóa: Dùng 12 Trường sinh để luận sự Cường Nhược của Tứ Hóa.
  • Đề xuất làm sao phân biệt sự Chân Giả của Tứ Hóa.
  • Đề xuất về vấn đề Nạp Âm của Tứ Hóa. Như đồng nhất Can Tứ Hóa nhân có Nạp âm Tứ hóa bất đồng, Sự Cường Nhược của Tứ hóa cùng quá trình và kết luận cũng bất đồng, chẳng hạn như đồng là Mậu Thiên cơ-Hóa kỵ, nhưng Mậu Tý và Mậu Dần của Mậu-Hóa kỵ có bất đồng quá trình cũng như kết luận.
  • Đề xuất Niên Can Tứ Hóa, 12 Cung Tứ Hóa, Vận Can Tứ Hóa mỗi thứ đều có chỗ Sở tại nhưng bởi khác nhau vì Cường Nhược do đó sản sinh ra những Kết luận bất đồng.
  1. Thẩm Thức Tinh Hóa Tử Vi Đẩu Số

              Tác phẩm

Nhân vật sáng lập ra môn phái này là THẨM BÌNH SƠN, phái này có 1 mô thức luận Mệnh khác lạ so với các Môn phái truyền thống, nên trong lãnh vực Tử vi cũng chiếm được 1 vị trí độc đặc riêng của mình. Phái này có vài quyển trứ tác như:

  • Tử Vi Mệnh Phổ (2 cuốn)
  • Tử Vi Chiêm Bệnh Đoán Quyết Thiệt Lệ
  • Tử Vi Đẩu Số Lưu Niên Tai Họa Tổng Luận
  • Tử Vi Đẩu Số Lưu Niên Tai Họa Chuyên Tập…

Ngoài ra ông Thẩm Bình Sơn có ra một quyển khổ to ” Tử Vi Đẩu Số đương đại Trung Quốc danh nhân phổ ”, gọi là ” Trung quốc danh nhân ” thực ra là ” Đài Loan danh nhân ”.

Về cách xem của ông Thẩm, tôi chỉ dám nói là ” lạ lùng ” vì có quá nhiều bí quyết không ăn nhậu gì đến các phép luận truyền thống của Tử Vi cũng như Tử Bình. ” Tử Vi mệnh phổ ” có mấy lá số rõ ràng sai, có số sai cả năm khiến ta phải hồ nghi độ khả tín của những lá số còn lại trong sách này.

” Tử Vi Đẩu Số lưu niên tại họa tổng luận ” thu thập nhiều lá số người thật việc thật và dùng các tổ hợp sao để nghiệm lý tại sao tai họa xảy ra và tại sao xảy ra như thế. Vấn đề là chẳng ai biết những lá số trong sách này có chính xác hay không. Cách đoán lại quá ” lạ lùng ”, chẳng phải là đại đồng tiểu dị mà phải nói là tiểu đồng đại dị so với kiến thức Tử Vi mà tôi đã biết.

Trong đó ông đã tiên đoán thời gian mất của Tưởng Thống Chế, Mao Xếnh Xáng, Tưởng Kinh Quốc, Đặng Lệ Quân, Tưởng Hiếu Vũ, chuẩn xác đến nỗi làm chấn kinh cả thế giới Mệnh lý và ngay cả những phần tử cao cấp trong Chính quyền cũng phải chú ý. Thẩm đại sư đồng thời phát kiến ra Tử Vi Đẩu Số Tinh hóa, Trung Hạn, nghịch cung, Phi tinh, Trực giác Chiêm pháp.v.v làm hoanh động nhất thời, tứ phương Hiền sĩ, Đạt nhân phân phân đăng môn cầu vấn, cao đồ mãn tọa, tạo thành 1 phong trào đưa Mệnh lý Trung quốc nâng cao lên 1 bước nhảy vọt!

Về sau, lại xuất bản ” Đương đại Danh nhân phổ ”, trong có có dự ngôn (tiên đoán) về Thị trường Cổ phiếu Đài loan, Đại gia Lạc phong hảng về việc Tinh vân pháp sư nghênh đón Phật nha, Tạ trường Đình phát sinh phong ba và việc Đặng tiểu Bình sẽ chết, Trần thủy Biển có thể đắc cử Tổng thống, nhưng trong Vận sẽ gặp Hung nguy… Những tiên đoán như trên thật là Thần bút linh kỳ, làm cho người ta phải tán thán.

Theo bài viết của Môn sinh của Thẩm bình Sơn, thì khoảng năm 1975, họ Thẩm đầu tiên xuất hiện giang hồ, trương bảng truyền thụ ” Phòng trung thuật ” (nghệ thuật tình dục), sau đấy vì nổi đình đám quá nên nhà nước nhảy vô can thiệp, dẹp bảng… Thế là Họ Thẩm thất nghiệp quay sang ” tiềm nghiên ” môn Kỳ môn độn Giáp và khám phá về thế giới kỳ ảo của Thiên văn.

Ban ngày thì ông chơi với Lục giáp thần tướng, họ chuyên hộ vệ ông cũng như rỉ tai báo cho biết trước những gì sắp xẩy ra, ban đêm thì ông chơi với.. Lục Đinh. Lục Đinh là 6 Cô Ngọc nữ chân dài và đẹp bá chấy, nhưng không nói ông học cái gì ở họ… thỉnh thoảng ông thấy như bản thân mình nhập vào..Thái hư, có vô số tia bức xạ chạy xuyên qua xương sống cũng như não môn, về sau hình như có 1 vị nhập vào người ông để..xem bói. Mỗi khi xem bói cho ai thì não bộ lại xuất hiện hình ảnh của người đấy.

Thẩm bình Sơn tướng Sư xem bói có khi không cần lá số, có khả năng vạn lý tri nhân Mệnh, lại có thể đoán được ngày giờ năm sinh của 1 người lạ hoắc, từng đưa ra ngày giờ sinh chân chính của Trần thủy Biển, Vương Kim Bình, Lý Đăng Huy, thậm chí thọ kỳ (năm chết) của Hoàng tín Giới, Lư tu Nhất, Chương hiếu Từ,,, cũng không thoát khỏi Diêm vương khẩu lệnh của Tổ sư gia.

Tổ sư đã sáng biện ra rất nhiều Tử vi Huyền Cơ cũng như chú thích vô số những chỗ tinh vi áo nghĩa trong các môn Kham dư, Tính danh, Khí tượng, và Quốc gia đại sự, có khả năng dự trắc sự lên xuống của Cổ phiếu mỗi ngày, dự đoán chính xác thời gian và địa điểm phát xuất của Toàn phong bão lốc cũng như những cơn địa chấn, ngoài ra còn biết nhập Thần, chữa Bệnh nhờ dị năng, Phòng trung thuật, Ảo giác vũ thuật.v.v

Thẩm Tôn sư đã khai sáng ra lãnh vực Thần học làm người người phải khâm phục, thật là 1 Dị sĩ Kỳ nhân nghìn năm có một tại Trung quốc vậy…

              Các Kỹ Thuật Chính

Thẩm bình Sơn thường che giấu cách thức luận Mệnh ” đặc biệt ” của mình. Phương thức luận của ông gồm 2 phần:

  • Truyền thống Tử Vi Đẩu Số chiêm pháp: Cũng dùng Cách cục, Ngũ Hành, Nam Bắc đẩu, Tứ Hóa, 12 Trường sinh, Tuế kiến, Tuế Tướng.
  • Thẩm thức Tử Vi Đẩu Số: Dùng Phi tinh, Tinh hóa, Luận cuộc, Biến cuộc, Tam hạn pháp, Quá Cung pháp…

Họ Thẩm không dùng Tứ Hóa Phi tinh mà dùng TINH HÓA gia thêm TAM HẠN PHÁP hoặc PHI TINH PHÁP làm chính.

              PHI TINH PHÁP

Cách phi tinh của thẩm thức khác với tứ hóa pháp, phương pháp này tương tự như cách thức ” tinh tinh hổ đạp ” của Vương Đình Chi, chẳng hạn mệnh cung có vũ khúc, hành hạn nhập thê cung thất sát, thì dùng vũ – sát phối hợp mà luận, 12 cung đều ” hổ đạp ” như vậy.

              TINH HÓA PHÁP

Tức lấy các tinh chính và phụ hóa làm chứng tượng trong phép đoán, chẳng hạn đang luận tật bệnh thì lấy thất sát hóa thành ngón tay, mật. đang luận về hung nạn thì thất sát sẽ hóa thành khai đao (giải phẩu),

              TAM HẠN PHÁP:

  1. Đại Hạn: Dùng như thường pháp
  2. Trung Hạn: Đại Hạn được phân làm 4 Trung Hạn, mỗi một Trung Hạn hành 2.5 niên. Trung Hạn theo thứ tự là: Đại Thiên 2.5 năm, Đại Mệnh 2.5 năm, Đại Tài 2.5 năm, Đại Phúc 2.5 năm.
  3. Tiểu Hạn: Không giống như Truyền thống, Thẩm thị Tiểu Hạn dùng Ngũ Hành cục Trường sinh Cung làm điểm chính để khởi Tiểu Hạn: Thủy/Thổ cục 1 Tuổi Tiểu Hạn tại Thân. Hỏa cục khởi tại Dần, Mộc cục tại Hợi, Kim cục tại Ty.

              Nhận định

Tóm lại, kể từ khi ra đời và phát triển cho đến nay. Trải qua hơn ngàn năm sự bổ sung, hoàn thiện thêm các kiến giải, luận đoán, dự báo, cải mệnh của khoa Tử Vi là điều không phủ nhận. Những đóng góp trên giúp cho khoa Tử vi càng thể hiện thêm vai trò cũng như tính thực dụng của khoa Tử vi nói riêng và Huyền học Đạo giáo nói chung đối với văn hoá và tâm thức Đông phương. Đại La Quán chúng tôi tổ chức biên soạn cuốn “Tử vi Đạo giáo” nhằm góp phần thêm cho độc giả cũng như người tìm hiểu, nghiên cứu khoa Tử vi có một cách nhìn bao quát, toàn diện lịch sử của khoa Tử vi, đặc biệt là về nguồn gốc lịch sử của khoa Tử vi.

Cuốn “Tử vi Đạo giáo” chúng tôi biên soạn dựa trên sự biên dịch 3 quyên “Tử vi Đẩu số” trong hệ thống “Chính thống Đạo tạng” Đạo giáo để mọi người có góc nhìn mới trên nền cũ của khoa Tử vi đẩu số. Đồng thời cũng là tài liệu giảng dạy cho môn sinh bản quán.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối tượng của khoa Tử Vi Đẩu số

Đối tượng ứng dụng trong khoa Tử Vi Đẩu số là số mệnh con người.

Số mệnh con người được xét trong tử vi là số phận con người gắn liền với gia đình, dòng họ (ông bà, bố mẹ, anh em, con cái) và những mối quan hệ xã hội.

Du nhập vào Việt Nam

Tuy xuất phát từ Trung Quốc, Tử Vi không được nổi bật lắm trong các môn bói toán khác. Nhưng khi du nhập vào Việt Nam, nó trở thành môn học được ưa chuộng nhất. Có rất nhiều học giả Việt nam đã cống hiến thêm cho môn nầy, trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn. Dần dần, Tử Vi Việt Nam có thêm những dị biệt so với Tử Vi nguyên thủy của Trung Quốc.

Những dị biệt giữa Tử Vi Việt Nam và Trung Quốc bao gồm:

  • Cách an mệnh của Tử Vi Việt nam bắt đầu từ cung Dần, trong khi một số phái tử vi Trung quốc bắt đầu từ cung Tý[2]
  • Cách tính tuế hạn của Tử Vi Việt Nam tùy thuộc vào chi của tuổi người xem. Trong khi tuế hạn của Trung quốc cố định?

Các sao trong Tử Vi Đẩu Số

Bộ “Tử Vi Chính Nghĩa” được coi như là chính thư không thấy nói về số sao. Song xét trong mục dạy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào.

Có môn phái Tử vi an tới 118 sao. Mỗi ngôi sao có một ý nghĩa. Sao này khi tương tác với sao khác lại có ý nghĩa khác.

Gồm Chính tinh, phụ tinh, cát tinh, phúc tinh, sát tinh, hung tinh, bàng tinh…

Theo Hi Di tiên sinh thì 93 sao đó là:

14 chính tinh

– Vòng Tử Vi có 6 sao: sao Tử viThiên cơThái dươngVũ khúcThiên đồng và Liêm trinh.

– Vòng Thiên Phủ có 8 sao: Thiên phủThái âmTham langCự mônThiên tướngThiên lươngThất sát và Phá quân.

Các phụ tinh

Các sao này mang bản sắc riêng biệt được an định trong 12 Cung trên một Thiên Bàn:

Vòng Thái tuế 5 sao là: Thái tuếTang mônBạch hổĐiếu kháchQuan phù. Các phái khác thêm vào 7 sao nữa là: Thiếu dươngThiếu âmTrực phùTuế pháLong đứcPhúc đứcTử phù.

Vòng Lộc tồn5 sao là: Lộc tồn,Bác sĩ, Lực sĩKình dương,Thanh long,Tiểu haoTướng quânTấu thưPhi liêmHỷ thầnBệnh phùĐại haoPhục binhQuan phủĐà la.

Vòng Trường sinh – 12 sao là Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Các sao an theo tháng – 6 sao là Tả phụ, Hữu bật, Thiên hình, Thiên giải, Địa giải, Thiên riêu.

Các sao an theo giờ – 8 sao Văn xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo, Địa không, Địa kiếp,Hỏa tinh, Linh tinh. Vị trí chính của sao Thiên Không được các phái khác thay bằng sao Địa Không, còn sao Thiên Không thì được an liền sau sao Thái Tuế và đồng cung với Thiếu dương.

Các sao an theo ngày – 4 sao là Tam thai, Bát tọa, Ân quang, Thiên quý.

Tứ trợ tinh – 4 sao là Hóa khoa, Hóa quyền, Hóa lộc, Hóa kỵ.

Các sao an theo Chi – 15 sao là Long trì, Phượng các, Thiên đức, Nguyệt đức, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên mã, Hoa cái, Đào hoa, Phá toái, Kiếp sát, Cô thần, Quả tú, Thiên khốc, Thiên hư. Hai Sao Hỏa tinh và Linh tinh được các phái khác an theo giờ sinh.

Các sao an theo Can – 5 sao là Lưu hà, Thiên khôi, Thiên việt, Tuần không, Triệt không.

Các sao cố định – 4 sao là Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng.

Cấu trúc Lá số Tử Vi

Lá số tử vi được trình bày trên Thiên bàn, địa bàn. Thiên Bàn ở giữa, chung quanh là Địa Bàn với 12 cung.

Tại Thiên bàn, ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, mệnh và cục (Phú cục, quí cục, tạp cục, bần tiện cuc..). Cách: Thượng cách, hạ cách, trung bình cách, phi thường cách

Địa Bàn gồm 12 cung cố định, được đặt tên theo mười hai địa chi, mỗicung phản ảnh một lĩnh vực, một mặt của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức, cha mẹ… Các cung trên địa bàn lần lượt mang các tên là: Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu thê, Huynh đệ.

  • Cung Cường và cung Nhược: Với Nam giới thì cung Quan, Tài… là cung Cường, Với Nữ giới cung Phu…là cung Cường

Những phương thức để xác định vị trí của khoảng 110 sao lên trên địa bàn được gọi là “an sao”.

Ý nghĩa 12 cung của Tử Vi như sau:

1. Cung Mệnh và Thân

Cung Mệnh là cung chính trong tử vi dùng để xem về chính bản mệnh của người có số. Xem cung Mệnh chúng ta có thể biết được khái quát về tướng mạo, tính tình, công danh tài lộc, khả năng chuyên môn, sự thọ yểu, thăng trầm, những bệnh tật hay tai họa trong cuộc đời. Nếu muốn biết rõ hơn về từng khía cạnh trên thì phải xem phối hợp với cung liên quan – ví dụ nếu muốn biết chính xác về những bệnh tật hay tai họa trong cuộc đời thì phải xem phối hợp với cung Tật ách…

Cung Mệnh có ảnh hưởng mạnh và mang tính chủ đạo từ khi mới sinh đến ngoài 30 tuổi, thời gian này cung Thân cũng đã ảnh hưởng rồi nhưng thụ động. Sau 30 tuổi người ta bước vào giai đoạn thành thục,các sao tọa thủ cung Mệnh ảnh hưởng yếu đi trở thành thụ động, các sao tọa thủ cung Thân ảnh hưởng mạnh lên mang tính chủ đạo, chi phối mọi hành vi và phát triển của con người từ lúc đó đến lúc chết.

Tuy nhiên sự ảnh hưởng này mang tính kế thừa của cả quá trình phát triển liên tục của con người, Các sao cung Thân ảnh hưởng dựa trên nền những gì đã được tạo ra bởi các sao cung Mệnh trong giai đoạn trước cũng như ảnh hưởng còn lại nhạt nhòa của Mệnh trong giai đoạn này. Vì thế cổ nhân vẫn thường dùng cung Thân để xem về hậu vận ngoài 30 tuổi trở đi của con người. Hai cung Mệnh và Thân liên quan mật thiết với nhau như một thể thống nhất trong một quá trình liên tục của một cá nhân nên phải xem phối hợp.

Cung mệnh là hiển hiện, thuộc dương. Cung đối xứng với nó là cung thiên di, ẩn tàng và thuộc âm. Bởi vậy, khi muốn xem về những nhân tố tiên thiên như số mệnh, dung mạo, cá tính, tài năng, cần phải tham khảo hàm nghĩa tiềm ẩn trong cung thiên di. Đặc biệt là khi trong cung mệnh không có chủ tinh, thì trạng thái cát hung của chủ tinh tại cung đối xứng có thể phán ảnh đến bảy tám phần thông tin về vận mệnh tiên thiên. Ngoài ra, khi phán đoán về mệnh, vận tại và quan cũng cần phải tham khảo các cung tài bạch và quan lộc trong cung tam hợp, bởi vì vận mệnh của con người có mối liên hệ khăng khít đối với năng lực kinh tế, trạng thái sự nghiệp của họ

  1. Cung Thân

Cung thân có thể cung cấp những thông tin về vận thế hậu thiên của con người. Cung mệnh chỉ bản tính tiên thiên, còn cung thân chỉ các hành vi hậu thiên. Tiên thiên là thể, là cơ sở; hậu thiên là dụng, là phát triển, nên cần phải kết hợp hai nguồn thông tin này trong phán đoán. Cung mệnh không tốt mà cung thân tốt, tức là dựa vào nỗ lực hậu thiên cùng sự phản ứng nhanh nhạy trước vận hạn và cơ hội, sẽ bù trừ được vào những khiếm khuyết tiên thiên để cải thiện vận mệnh. Ngược lại, cung mệnh tốt mà cung thân và vận hạn không tốt, nếu thiếu cẩn trọng dễ khiến vận mệnh biến đổi theo chiều hướng xấu.

Cung thân không thể trở thành một cung độc lập, mà cần phải xếp cùng một trong số 6 cung là mệnh, tài bạch, quan lộc, thiên di, phúc đức và phu thê. Nếu được xếp cùng cung cát, đã cát lợi càng thêm cát lợi. Nếu xếp cùng cung hung, thì đã hung lại càng thêm hung.

Có những khuynh hướng sau đây:

  1. Thân, mệnh cùng cung: vận mệnh tiên thiên được thể hiện qua các sao trong cung mệnh mang tính chủ quan rất mạnh, trong cuộc đời ít chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xung quanh, tức không dễ đổi mệnh.
  2. Phu thê và thân cùng cung: chịu ảnh hưởng khá mạnh của hôn nhân hoặc vợ chồng, có trách nhiệm với gia đình, coi trọng không khí sinh hoạt gia đình, vợ chồng thường có cá tính hoặc sở thích giống nhau.
  3. Tài bạch và thân cùng cung: vận mệnh dễ chịu ảnh hưởng bởi tình trạng kinh tế cá nhân, coi trọng giá trị tiền tài, khao khát làm giàu.
  4. Quan lộc và thân cùng cung: vận mệnh dễ chịu ảnh hưởng bởi nghề nghiệp và môi trường làm việc, coi trọng danh vọng, ham mê sự nghiệp.
  5. Thiên di và thân cùng cung: vận mệnh dễ chịu ảnh hưởng bởi nơi ở và nơi xuất ngoại, thường xuyên xuất ngoại, thường xuyên thay đổi nghề nghiệp và nơi ở.
  6. Phúc đức và thân cùng cung: vận mệnh dễ chịu ảnh hưởng bởi công đức tổ tiên, nhân quả, đời sống tinh thần, coi trọng hưởng thụ (nhưng không phải lúc nào cũng hoang phí). Các trường hợp này thường gọi theo thuật ngữ thường dùng là: thân cư mệnh, thân cư phối, thân cư tài, thân cư quan, thân cư di, thân cư phúc.

Cung thân được phân bố theo quy luật cố định như sau:

  1. Sinh giờ Tý, Ngọ: cung thân xếp cùng cung Mệnh
  2. Sinh giờ Mão, Dậu: cung thân xếp cùng cung Thiên Di
  3. Sinh giờ Dần, Thân: cung thân xếp cùng cung Quan Lộc
  4. Sinh giờ Tỵ, Hợi: cung thân xếp cùng cung Phu – Thê
  5. Sinh giờ Thìn, Tuất: cung thân xếp cùng cung Tài Bạch
  6. Sinh giờ Sửu, Mùi: cung thân xếp cùng cung Phúc Đức

Nếu trong cung mệnh không có sao chủ tinh thuộc chòm sao Tử Vi, Thiên Phủ, thì lấy chủ tinh của cung đối xứng (tức cung thiên di) làm chủ tinh của cung mệnh. Mức độ mạnh yếu của chủ tinh tại cung thiên di không được thể hiện trọn vẹn tại cung mệnh, mà sức mạnh của nó chỉ bộc lộ được khoảng bảy phần mà thôi. Đương nhiên chủ tinh của cung thiên di cát tinh vẫn tốt hơn cả. Trong trường hợp này, cần phải tham khảo mức độ ảnh hưởng của cung thân.

Nếu như cung mệnh có chủ tinh thì biểu hiện vận mệnh chính yếu là các sao trong cung mệnh. Nếu cung mệnh không có chủ tinh thì cần phải chú trọng tác dụng cung thân. Lúc này, cung thân và cung thiên di chính là đối tượng chính để nghiên cứu. Nếu như cả mệnh và thân đều không có chủ tinh, thì cần phải coi cung thiên di là đối tượng chủ yếu. Vị trí của cung thân thường nằm ngoài cung mệnh, bởi vậy sức mạnh cát hung của cung mà nó được xếp vào là nhỏ hơn so với cung mệnh, nhưng lại lớn hơn 11 cung còn lại.

3. Cung Phụ Mẫu

Xem cung Phụ Mẫu có thể biết qua một phần nào về hai đấng sinh thành của mình và sự thọ yểu của bố, mẹ qua hai sao Nhật – tượng trưng cho Cha, và Nguyệt – tượng trưng cho Mẹ là đại diện. Từ cung Phụ mẫu, còn xem về hạnh phúc trong gia đình, sự hòa hợp hay xung khắc giữa cha mẹ và chính mình.

4. Cung Phúc Đức

Cung Phúc Đức là cung quan trọng nhất trong Tử Vi, có ảnh hưởng chi phối đến 11 cung số. Một cung Phúc tốt có thể gia tăng ảnh hưởng tốt và chế giảm những sự xấu của các cung khác.

Xem cung Phúc có thể biết qua về phúc trạch, thọ yểu và sự thịnh suy trong dòng họ có ảnh hưởng đến chính mình, để từ đó hành thiện tích đức, gieo nhân tốt để cho đời sau được thiện quả. Ngoài ra còn có thể biết qua về âm phần trong dòng họ. Cung Phúc Đức cho biết rõ nhân quả, nghiệp báo của chính mình, là sự biểu hiện của Quả trong đương kiếp bởi Nhân.

5. Cung Điền Trạch

Xem Cung Điền để biết qua về điền sản cơ nghiệp, nhà cửa cùng với sự thủ đắc – thừa hưởng hay tự tạo – và mức độ thụ hưởng hay phá tán của mình.

Khi suy đoán, cung điền trạch cần kết hợp cung tử tức, do việc sinh đẻ con cái có liên quan đến vấn đề sinh hoạt tình dục trong gia đình. Việc mua bán bất động sản và phong thủy nhà ở cũng liên quan mật thiết đến vấn đề con cái. Phong thủy nhà rất chú trọng đến những nhân tố có liên quan đến sự nghiệp học vấn và mức độ hiếu thuận của con cái, thành tựu của con cái cũng tác động đến tình hình nhà đất của bản thân, như giảm (chia nhà đất cho con cái) hoặc tăng (được con cái tặng nhà, mua đất).

Luu ý:Xã hội Việt Nam ngày nay có rất nhiều gia đình có bố mẹ làm to hay giàu có, nhưng sau đó đến đời con bị nó phá hết sạch vốn liếng, tài sản tích cóp bao năm. Đó cũng chính là một dấu hiệu cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cung tử tức tới cung điền trạch. Có câu “phá gia chi tử” cũng là vì vậy!

6. Cung Quan Lộc

Cung Quan Lộc là một trong tam hợp ba cung chính của Tử Vi để biết về công danh, sự nghiệp, những triển vọng của nghề nghiệp (đắc thời hay thất bại) và những khả năng chuyên môn của chính mình.

Nhưng khi suy đoán về cung này, cần phải kết hợp với cung đối xứng là cung phu thê, điều này đã được trình bày ở phần mô tả về cung phu thê. Mặt khác để suy đoán mức độ thành công trong sự nghiệp, cũng cần phải kết hợp với hai cung còn lại trong tam hợp là cung mệnh và cung tài bạch, kết quả suy đoán mới được chính xác.

Lưu ý:

– Thời nay công việc ngành nghề phong phú, lại có liên quan lẫn nhau, nên việc đoán cụ thể là làm công việc gì là không thể, mà chỉ có thể dự đoán là làm công việc có tính chất gì, ví dụ công việc có tính chất quan hệ ngoại giao, công việc có tính chất nghiên cứu, công việc có tính chất mạo hiểm…

– Xã hội hiện đại, kinh tế phát triển, thời đại toàn cầu hóa là đất của những con người “dám nghĩ dám làm”, thời xưa thì lại trọng văn sĩ, làm quan và ổn định sự nghiệp, nên tính chất tốt xấu của cát tinh, hung tinh trong cung quan lộc cũng cần phải xem xét.

7. Cung Nô Bộc

Cung Nô Bộc cho biết về bè bạn, người cộng sự, cấp trên hay người giúp việc, đối với mình tốt hay xấu, có lợi hay không về mặt tài lộc hay công việc. Ngoài ra, Cung Nô Bộc cũng là một điều kiện cần thiết để tìm hiểu thêm về cung Phu Thê.

Nhìn vào cung Nô Bộc có thể phán đoán về sự nghiệp thành bại và khả năng làm lãnh đạo của con người (giao hữu, nhân tế quan hệ, ngoại giao, thụ phiến (bị lừa), luyến ái đối tượng, tiểu nhân tổn hại).

Từ cung này có thể suy luận ra mối quan hệ xã hội của cá nhân, nhưng cần phải kết hợp với cung đối xứng là cung huynh đệ, vì biết được mức độ gắn bó tình cảm của anh chị em trong gia đình mới có thể suy luận xem người đó có nhận được sự trợ giúp từ bên ngoài hay không.

8. Cung Thiên Di

Cung Thiên Di là cung đối xung với cung Mệnh chỉ về tình trạng ngoại cảnh của mình, môi trường xã hội bên ngoài ảnh hưởng tới mình, những sự may rủi hay giúp đỡ của người ngoài.

Cung Thiên Di cũng nói lên điều kiện về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, năng lực ngoại giao, đàm phán của đương số.

Ngoài ra, Cung Thiên Di giúp chúng ta phán đoán vận mệnh về xuất ngoại, khả năng phát huy tài năng và độ năng động, trạng thái cát hung trong mọi hoạt động và những hoạt động đối ngoại, như du lịch, di dân, chuyển chỗ ở, đi công tác, đi làm xa, hay khả năng xã giao, phạm vi quan hệ, thay đổi ngành nghề, buôn bán… đều phải quan sát cung này.. Do đường xuất ngoại và khả năng hoạt động của con người có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh, do vậy cung Thiên Di có ảnh hưởng lớn đến cung Mệnh (hoạt động, xuất hành, ngoại xuất, ngoại vụ, xuất quốc, hướng ngoại phát triển, thăng chức, chuyển nghiệp).

Các sao trong cung Thiên Di càng yên tĩnh, thì cuộc đời càng bình yên phẳng lặng. Nếu ngược lại, thì khó tránh bôn ba vất vả. Thế nhưng, cung mệnh vẫn đóng vai trò quyết định đối với cung thiên di, bởi vì các nhân tố cá tính, tài năng, và cơ hội của một người có ảnh hưởng quyết định đối với vận xuất ngoại và độ năng động của họ. Bởi vậy, cần phải đặt hai cung này trong một mối quan hệ qua lại chặt chẽ, khăng khít, thì kết quả luận đoán mới chính xác.

Nếu như cung thiên di tốt, thường dẫn đến những xu hướng sau:

– Thường xuyên di chuyển, đổi chỗ ở, có nhiều cơ hội di cư

– Thuở nhỏ đã theo cha mẹ di cư, thường phải sống xa quê cha đất tổ

– Thường cư trú hoặc làm việc, học tập tại đô thị lớn

– Thường làm những công việc, ngành nghề mang tính hướng ngoại, như du lịch, phát thanh, giao thông vận tải, thương mại mậu dịch, đạt được thành tựu khả quan

– Thường có được các mối quan hệ xã hội tốt

Nếu cung thiên di không tốt, dễ dẫn đến những xu hướng sau:

– Ra ngoài làm ăn thường không thuận lợi, ít thành tựu, ngày càng trở nên cô độc

– Không nên du lịch xa, vì dễ không thuận lợi

– Không nên theo ngành nghề mang tính hướng ngoại.

Chú ý:Sau Mệnh, Thân, Thiên Di là cung cực kỳ quan trọng đối với vận mệnh đời người, đặc biệt trong giai đoạn xã hội toàn cầu hóa như hiện nay, khi mà sự năng động và quan hệ xã giao của cá nhân đóng vai trò rất lớn trong sự thành công của người đó.

Vì là cung đối xung với Mệnh nên cung Thiên Di chính là đối phương của mình (xin xem thêm “Luận về cung xung chiếu” để tham khảo).

9. Cung Tật Ách

Xem cung Tật Ách để biết qua về tình trạng chung về sức khỏe, những bệnh tật có thể mắc phải hay những tai ương họa hại có thể xảy đến với mình trong đời. Cung Tật ách cũng cho ta thấy đời sống nội tâm của đương số.

Có thể hiểu được về thể chất, tình trạng sức khoẻ, có thể đoán được cơ thể dễ bị mắc bệnh ỏ những bộ phận nào, dễ mắc loại bệnh nào, từ đó dự đoán được khả năng xảy ra tai nạn hay những bệnh tật ngoài ý muốn (thân thể, tật bệnh, thương tàn, tử vong, công tác địa điểm, công tác đơn vị, đảo điếm sự).

Khi quan sát cung tật ách, cần phải phối hợp với cung đối diện là cung phụ mẫu. Bởi vì thể chất tiên thiên của một người phần nhiều được di truyền từ cha mẹ, và tình hình sức khỏe của trẻ nhỏ thường có liên quan đến mức độ chăm sóc của cha mẹ. Đồng thời, tình trạng sức khỏe của con cái lại gây ảnh hưởng đến tâm trạng và cuộc sống của cha mẹ.

Lưu ý: Tử Vi Đẩu Số khá yếu trong phán đoán bệnh tật, bởi xưa nay, danh gia Tử Vi đẩu số không thực sự am hiểu sâu về y học, bệnh lý, cho nên các kinh nghiệm để lại có phần chắp vá. Vì vậy, phán đoán sức khỏe bệnh tật trong khoa tử vi đẩu số chỉ mang tính khái quát, tham khảo, cụ thể thì phải cần tới Đông Tây Y học.

Riêng ở này, người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số để có thể luận đoán phù hợp (chính xác) hiện thực bệnh tật của đương số rất cần thiết cho nhà nghiên cứu Tử Vi nên biết về Y Lý

10. Cung Tài Bạch

Cung Tài là một trong ba cung tam hợp chính Mệnh – Tài-Quan của Tử Vi cho chúng ta biết tổng quát về tiền tài, mức độ giàu nghèo, thời gian hao phát và may rủi, khả năng thụ hưởng, tư cách sử dụng về tiền tài vật chất của mình.

Cung Tài Bạch (Tài Lộc) hay cung Sinh Tài dùng để phán đoán về tài vận, phưưng thức quản lý tài chính và năng lực của một người, thu nhập cao hay thấp, tình hình kinh tế ra sao, có khả năng tích lũy tiền của và những việc liên quan đến tiền tài hay không. Cung Tài Lộc có liên quan đến cung Mệnh và cung Phúc Đức. Đó là do một người có thể phát tài là dựa vào việc có nhận được điều kiện tiên thiên và có phúc phần hay không (tài vận, sinh ý (làm ăn), đầu tư, trám tiễn (kiếm tiền), hiện kim, hoa tiễn (tiêu tiền), tổn tài, phá tài, tư kim chu chuyển (quay vòng tài chính), trái vụ (nợ nần)).

Mặt khác, những thứ thuộc về đời sống tinh thần như khả năng hưởng thụ, tâm thái đối với cuộc sống và phúc phận cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của điều kiện vật chất. Đương nhiên, tài vận của một người chịu ảnh hưởng của tư chất con người và vận sự nghiệp tiên thiên, bởi vậy, khi xem cung tài bạch, cũng cần phải kết hợp với hai cung còn lại trong cung tam hợp là cung mệnh và cung quan lộc.

Cung tài bạch cũng cho ta thấy một người có thể làm giàu hay không? phương thức làm giàu như thế nào? Có tình huống bạo phát hay không, được chính tài hay thiên tài (tiền từ làm ăn ngay chính, hay tiền không lợi ẩn ngầm)

Phụ chú:Người có cung Tài bạch xấu nhưng vẫn giàu có, đương nhiên là nhờ cung Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc sáng sủa tốt đẹp, sách viết: “Nhiều cát tinh, gặp hung cũng hóa cát”. Đánh giá sự giàu nghèo của một người không thể chỉ dựa vào duy nhất cung Tài Bạch mà luận được, ngoài ra còn phải xem đại hạn của người đó nhập cung thế nào rồi mới phán đoán tốt xấu

11. Cung Tử Tức

Xem cung Tử Tức là để biết qua về đường con cái của mình như số lượng (nhiều hay ít và trai gái) tình trạng nuôi dưỡng con cái, có con nuôi hay dị bào không và sự khắc hợp giữa mình với con cái.

Cần phải xem phối hợp với các cung Mệnh –Thân-Phúc, cung Tử Tức trong lá số của người phối ngẫu và sự truyền tinh giữa các cung và lá số để quyết đoán.

Cung Tử Tức cũng được dùng để phán đoán về đời sống tình dục (ngoạn nhạc, du hí, hợp hỏa, tử nữ, học sinh, vãn bối, sinh dục, sắc tình, đào hoa…) của đương số.

Mặt khác, môi trường sống (Điền trạch) cũng có ảnh hưởng đến thành tựu của con cái. Con cái có ngoan ngoãn hiếu thuận hay không, điều đó cũng ảnh hưởng đến sự tốt xấu của gia trạch. Bởi vậy, mối quan hệ giữa cung Tử tức và cung Điền trạch đối diện là vô cùng mật thiết.

Thường mọi người quan niệm rằng con cái là để nương tựa lúc tuổi già, nên cần phải kết hợp cung mệnh với cung tử tức để suy đoán. Nếu cung tử tức tốt, con cái sau này dù giàu sang vẫn một lòng hiếu thuận. Nhưng nếu cung Mệnh thể hiện rằng bản thân cuối đời cô độc, tức con cái đều đi xa lập nghiệp, năm hết tết đến thi thoảng mới về nhà thăm nom, ngày thường dù có ốm đau bệnh tật, cũng không có con cái bên mình chăm sóc.

Bởi vậy, con cái dù tài giỏi giàu có cũng không thể bầu bạn lúc tuổi già. Nếu cung mệnh tốt mà cung tử tức không tốt, thì con cái dù không bận bịu cũng không thể sớm hôm kề bên cha mẹ. Nhưng do bản thân tích lũy được ít nhiều của cải, nên cuối đời vẫn có thể sống nhàn nhã, không những không cần con cái trợ giúp về kinh tế, mà ngược lại, còn có thể tiếp tế cho con cái, tức cha mẹ để phúc cho con. Nếu như cung mệnh và tử tức đều xấu, tức con cái không những không làm nên trò trống gì, lại bất hiếu, không biết điều, bởi vậy bản thân cuối đời vẫn phải vất vả kiếm tiền tự nuôi thân, hơn nữa, còn phải móc hầu bao nuôi đám con cái bất tài. Bởi vậy, không những không thể nương tựa vào con cái, mà con cái còn trở thành gánh nặng cho bản thân.

12. Cung Phu thê

Xem cung Phu thê, có thể biết qua về hôn nhân và hạnh phúc, thời gian lập gia đình, tính tình và tư cách, sự khắc hợp giữa mình với người bạn đời. Ngoài ra, cung Phu thê còn thể hiện xu hướng mà đương số muốn chọn bạn đời.

Khi quan sát cung phu thê cần phải tham khảo cung đối xứng là cung sự nghiệp (cung quan lộc). Bởi vì những cuộc xã giao trong công việc cần phải có vợ chồng cùng xuất hiện, khi gặp phải những vấn đề về sự nghiệp cũng cần tham khảo ý kiến chồng hoặc vợ, nên mức độ hạnh phúc gia đình và mức độ thành công trong công việc thường có mối quan hệ nhân quả khá mật thiết với nhau.

Bởi vậy, chồng (hoặc vợ) có vận trợ giúp bản thân hay không, điều này có liên quan đến mức độ ảnh hưởng của sự nghiệp đến đời sống gia đình. Cung sự nghiệp, cung phu thê đều cát lợi thì sự nghiệp thành tựu mà gia đình hòa thuận. Cung sự nghiệp tốt mà cung phu thê lại xấu, thì tuy sự nghiệp có thành tựu mà không được sự hậu thuẫn của gia đình. Nếu cung sự nghiệp xấu mà cung phu thê lại tốt, tuy sự nghiệp không được như ý, nhưng lại được vợ (chồng) tích cực ủng hộ, đồng cam cộng khổ, nên cũng được bù trừ. Nếu cung phu thê và sự nghiệp đều xấu, không những sự nghiệp gặp nhiều trắc trở, mà đời sống gia đình cũng không được hạnh phúc như ý.

Khi quan sát cung phu thê, cần phải phối hợp cung thiên di và cung phúc đức. Bởi vì vận xuất ngoại, mức độ năng động, tâm thái và đời sống tinh thần của một người đều ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng người đó, đồng thời, hạnh phúc vợ chồng cũng sẽ ảnh hưởng đến những hành vi bên ngoài và phúc phận trong gia đình. Hai cung nằm cạnh cung phu thê cũng có vai trò quan trọng, bởi vì con cái có ngoan ngoãn hay không (cung tử nữ), quan hệ chị em dâu có hòa thuận hay không (cung huynh đệ) cũng thường xuyên tác động đến hạnh phúc hôn nhân.

13. Cung Huynh Đệ (hay cung Bào)

Xem cung Bào để biết qua một cách tổng quát về số lượng và tình trạng của anh chị em trong gia đình, sự hòa hợp hay xung khắc giữa anh chị em với chính mình.

Từ các sao của cung huynh đệ và tại cung tam phương tứ chính xung quanh, có thể phán đoán được mức độ thành công của anh chị em (tài khố, thành tựu, phí dụng chi xuất, tình cảm, huynh đệ tình nghĩa đích sự tình)

Cung huynh đệ chủ yếu dùng để suy luận về các mối quan hệ trong nội bộ gia đình, còn cung nô bộc (hay cung bằng hữu) dùng để suy luận các mối quan hệ ngoài xã hội. Bởi vậy, kết hợp hai cùng này có thể phán đoán được về năng lực nội, ngoại giao của một người. Ngoài ra, một người dù có thể không có anh chị em, nhưng chắc chắn phải có bạn bè và các mối quan hệ xã hội, nên cung nô bộc sẽ phản ánh được về quan hệ xã hội của bản thân người đó.

Khi quan sát cung huynh đệ, cần phải kết hợp với cung tật ách và cung điền trạch. Anh chi em là do cùng một cha mẹ sinh ra, nên huyết thống tương đồng, nếu bản thân khỏe mạnh cũng có thể suy ra thể chất của anh chị em. Nhà cửa ruộng vườn của bản thân có thể được thừa kế từ cha mẹ, cũng có mối liên hệ với các anh chị em, nên cần phải chú ý tới.

Các cung trên địa bàn là nơi phân định trạng thái miếu địa, vượng địa, đắc địa hay hãm địa cho các sao.

Cách lập lá số tử vi

Lá số tử vi của mỗi người được thành lập dựa vào các yếu tố vào giờ, ngày, tháng, năm sinh (âm lịch) và giới tính.

Trước hết vẽ bản đồ, giữa Địa Bàn, chung quanh là Thiên Bàn với các cung. Bản đồ phải đủ lớn để viết trên 100 Sao.

Ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, an mạng và tính cục, ghi vào Địa bàn.

Sau đó xác định các đai vận và ghi trên Thiên bàn.

Tiếp đến, tiến hành an lá số tử vi. Đầu tiên là an sao Tử vi. Sau đó là an các bộ sao Tử vi, Thiên phủ, Thái tuế, Thiên không, Lộc tồn, Tràng sinh, Hung sát tinh, Trung tinh.

Sau cùng ghi tiểu vận, các sao lưu, sao bay, và di cung.

11 h trưa đến 1 h chiều là giờ Ngọ (12 h trưa là chính Ngọ). 11 h đêm đến 1 h sáng là giờ Tí.

Xem Địa Bàn trước: Ngũ hành tương sinh (Cục sịnh mệnh, cung an mệnh sinh mênh…) Âm dương Thuận lý (Dương Nữ sinh vao cung DƯơng…) gọi là lá số Tốt. Âm dương nghịch lý, Ngũ hành Tương Khắc gọi là lá số xấu

Cách giải đoán Tổng Quát

Muốn lập thành một lá số Tử vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính. Cách lập thành lá số Tử vi nói chung có nguyên tắc, trình tự được chỉ dẫn khá rõ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm… của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.

Khi giải số, nói chung cần phải theo đúng những tiến trình luận đoán số, nắm được những đặc tính của các sao, nắm được những cung cần phải xem và những vận hạn trong cuộc đời phải biết, cần phải xem xét các sao trong cung, sao xung chiếusao tam hợpsao nhị hợp.

Xem một lá số tử vi, ta có thể biết được các thông tin về đương số, và mối quan hệ với các cá thể khác, thông qua phép Thái Tuế Nhập Quái. Một trong những đặc điểm khác biệt giữa Nam và Bắc Phái, đó là Bắc Phái sử dụng Lưu Tứ Hóa làm chủ chốt trong giải đoán.

Cách xem vận hạn

Nghiên cứu lá số tử vi, ta có thể biết được vận hạn cuộc đời của đương số. Trong tử vi, có các loại vận là: Đại vận 10 nămVận nămVận Tháng,Vận NgàyVận Giờ.

Đại hạn,

Tiểu hạn,

Nguyệt hạn,

Nhật hạn.

Cũng có người cho rằng: Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Phúc tốt hoặc Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt…

Càng khảo sát chi tiết về mặt thời gian thì càng đòi hỏi trình độ cao trong luận đoán. Dễ nhất là khán lá số ở mức độ nguyên thủy, tính cách nói chung, khó hơn là khán ở mức độ Đại Vận, và khó nữa là mức độ Lưu Niên. Một số nhà nghiên cứu tử vi có trình độ cao có thể khán chính xác đến tận hạn ngày, thậm chí chính xác tới hạn giờ tai nạn thông qua lá số tử vi.

Để giải đoán vận theo năm, người ta phải sử dụng sao lưu và các lưu cung.

Trong giải đoán ở mức độ vận năm, có ba kỹ thuật vận chính được sử dụng là Lưu Niên Đại VậnTiểu VậnLưu niên Thái Tuế,

Có các trường phái xem Niên vận, dựa vào việc di các cung tương ứng để cung mệnh trùng với cung an vận. Có ba trường phái chính:

  • Lưu Cung Mệnh tại Lưu Niên Đại Vận, bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang, và hầu hết các tử vi gia ở VN.
  • Lưu Cung Mệnh tại Tiểu Vận (nhưng đang bị một số học giả khác phê phán).
  • Lưu Cung Mệnh tại cung có Lưu Thái Tuế, được sử dụng rộng rãi ở Đài Loan.

Đến nay, có nhiều trường phái không thống nhất nhau về cách an vận theo tháng. Theo [Vân Đằng Thái Thứ Lang], nguyệt vận được tính từ tiểu vận, đếm nghịch đến tháng sinh, coi đó là giờ Tí, đếm thuận theo giờ sinh, được coi như đó là tháng 1.

Có nhiều kỹ thuật khác nhau cần kết hợp với các lý thuyết Lưu Cung để xem vận, trong đó có thể kể đến lý thuyết sao Treo, sao Rung, vòng trường sinh bay, lý thuyết Lưu Cục, lý thuyết Kỳ Số.

Giới hạn

Có tất cả 518.400 (60 can chi, 12 tháng, 30 ngày, 12 giờ, và 2 giới tính) lá số khác nhau trong Tử Vi. Có người dùng con số nầy để đi đến kết luận rằng Tử Vi không thể dùng để lý giải sự khác nhau của những người sinh cùng thời điểm.

Có người sử dụng lý thuyết sao mệnh chủ,sao nòng cốt hoặc kết hợp với các phương pháp khác như Bói dịchTướng số.. để vượt qua giới hạn này.

Những phái nổi tiếng trong lãnh vực Tử Vi

Hiện nay, có một số môn phái tử vi như:

  • Phái Tử Vân, ở Đài Loan
  • Phái Trung Châu, ở Hồng Kong.

Thế đứng các sao trên lá số

Trong lá số tử vi, các sao được xem xét dựa vào thế đứng của chúng bao gồm thế tam chiếu (Nhật ở Tỵ, Nguyệt ở Dậu chiếu vào Mệnh tại cung Sửu gọi là ” Nhật Nguyệt chiếu bích” đẹp hơn Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu, Mùi), thế xung chiếu (Nhật ở Tỵ chiếu vào cung Mệnh ở Hợi gọi là ” Thái dương chiếu mênh” hặc là cách ” Thái dương Tỵ” đẹp hơn Thái dương thủ mệnh), thế nhị hợp (Gấp đôi lá số theo chiều dọc, cung Tỵ với cung Thân, cung Ngọ với cung Mùi…) và đặc biệt là bộ Thiên Địa Nhân. Các cung trên lá số chỉ báo trạng thái chung nhưng phải tìm được bộ Thiên Địa Nhân mới thấy được bản chất thực của các vấn đề.

Tam chiếu: Dần – Ngọ – Tuất, Tỵ – Dậu – Sửu…

Xung chiếu: Dần – Thân, Tỵ – Hợi, Thìn – Tuất…

Thế Nhị Hợp, Lục Hội: Các sao đối xứng nhau qua trục nằm ngang như: Tử Vi lục hội với Cự Môn, Vũ Khúc nhị hợp với Thái Âm, Thiên Phủ nhị hợp Thái Dương, Thiên Cơ nhị hợp Phá Quân lục hội Thiên Tướng, Tham Lang nhị hợp Thiên Đồng, Liêm Trinh nhị hợp Thiên Lương.

[1]Trích Cốt tủy Khoa Tử Vi của Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại-Sỹ – Đại Nam ấn hành 1994

[2] Hiền tại, ở Việt Nam phương pháp an sao và luận đoán chủ yếu theo phương pháp Nam phái.