Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022

QUÊ HƯƠNG CHỈ CÓ MỘT TRONG TÂM

 






QUÊ HƯƠNG CHỈ CÓ MỘT TRONG TÂM

 

Nơi này anh gửi đến tri âm

Xao xuyến vùng biên gió lặng thầm

Mỏi cánh chim xa mơ tổ ấm

Lạc dòng suối lệ khóc tình câm

Hoa lòng mới nở chưa mong nhạt

Tình ý đắm say chớ lạc lầm

Trao khúc duyên thơ ru dáng liễu

Rừng sâu vọng nguyệt chí thâm lâm

 

Rừng sâu vọng nguyệt chí thâm lâm

Xào xạc mưa khuya tiếng gọi thầm

Hoài vọng em xưa mây gió lặng

Hướng phương quê nhỏ khói hương trầm

Thác rừng mãi đổ cung sầu cảm

Dòng chảy cứ trôi khúc ngọc cầm

Ngắm cảnh rừng sâu lòng tự nhủ

Quê hương chỉ có một trong tâm

Hoàng Huy

 

HỘI NGỘ

 

Thu đến ta cùng nắm chặt tay

Yêu thương tận hưởng phút giây này

Vần thơ lắng đọng niềm nhung nhớ

Điệu nhạc chan hòa chốn khói mây

Rạng rỡ nhìn nhau trao khát vọng

Dịu dàng đắm đuối gửi mê say

Gặp nhau hồi tưởng ngày bom đạn

Một chút Trường Sơn chợt đến này

Hoàng Huy

Thơ tình Trần Hạ Vi

 

Thơ tình Trần Hạ Vi

Đôi khi vào buổi sáng sớm, một vài câu thơ của Trần Hạ Vi trở lại trong tâm trí tôi, như lời tâm sự hay một sự thật.Thơ chị là cuốn nhật ký từ bên trong. Nhiều người quanh ta đang hạnh phúc vì có tình yêu, nhiều người khác đã có, đánh mất. Nhưng chị có cả hai cùng lúc: niềm vui và nỗi buồn, lo âu và may mắn.
tháng mấy sao mùa xanh thế
nghịch ngầm cát bỏng mắt trong
cánh nhạn xa mùa chưa tỏ
sương mai uống tối rưng lòng
Trong những bài khác, thơ chị không trau chuốt như vậy, và ý tưởng rõ ràng hơn. Làm thế nào để dung hợp cái đẹp của ngôn ngữ và tính mục đích? Bài thơ của chị định nói một điều gì, không những thế, còn định nói với một người nào. Đó là thứ ngôn ngữ trẻ trung, khi ngọt ngào thì ngọt ngào quá, khi lại phũ phàng. Thơ châm biếm nhiều hơn hài hước, khiêm tốn nhiều hơn lên giọng, trong sáng nhiều hơn mờ ảo. Đó là thơ tự do của những năm gần đây.
nhà em ít cãi nhau
nên lâu lâu là em muốn khóc
Tôi vốn cẩn thận khi đứng trước sự đơn giản. Nhiều khi chúng chỉ là giản đơn trống rỗng, có lúc bên trong chứa những bí mật. Bề ngoài, các quãng đời của chị thể hiện rõ ràng, không giấu diếm. Chị thành thật nhưng không phải khi nào cũng tin vào quyền năng của thơ ca. Thực ra, đối với tình yêu, Trần Hạ Vi cũng có lúc nghi ngờ. Tuy còn khá trẻ, dường như chị sống nhiều hơn một cuộc đời:
em ngồi cho trà vào những túi nhỏ
lá trà khô quắt tự ép mình
cong queo
mỗi túi trà một muỗng cà phê
như tình nghèo
như yêu thời bao cấp 
lằn ranh đói khổ chật vật
tình yêu như con thú dữ
đôi khi cần bỏ đói
không thể nâng niu 
em cho trà vào những túi nhỏ
như phân phối khẩu phần
siết hờ miệng túi phân vân
nhớ anh bao nhiêu
xa anh bao nhiêu
phải chăng là đã đủ?
Thơ đối với Trần Hạ Vi là phương tiện để trò chuyện với tình yêu ở ngã rẽ của đời, bao dung và khắc nghiệt, trung thành và phản bội. Thơ tình không chỉ là thơ tình mà còn là ký ức của một người sống sót sau tai nạn, quãng đời truân chuyên, và đôi khi, sau một cái chết.
mênh mông quá
ta lạc lòng hồ lạ
nước mịn màng
nước ve vuốt trầm kha 
yêu em đó
ta gặp em ngày lạ
tim rộn ràng
tim chở máu phù sa
Có lẽ có người phàn nàn thơ chị bị ám ảnh quá nhiều bởi những vấn đề riêng tư. Thì đó cũng là rắc rối của thơ trữ tình hôm nay: đào sâu vào cái tôi của mình, không chú ý đến người khác. Nhưng trong văn chương, người đọc phải nhìn thấy cái bóng của chính họ. Thế này thì riêng hay chung?
em đã từng yêu anh
hơn người đàn ông đó
anh lẳng lặng ra đi
người ta lau nước mắt cho em
rồi hôn em
em không phản đối
trước khi quay về
anh hãy chạy qua chín dòng suối
vớt lại giọt nước mắt em
Càng về sau, Trần Hạ Vi càng đi xa khỏi tính rành mạch, tới gần phía đường biên lẫn lộn sáng tối, tìm cách nói những điều khó nói. Đó là thứ thơ nổi loạn của người nữ, thoát khỏi định kiến về giới tính, gia đình, văn hóa. Nhưng một người muốn nổi loạn chống lại quá khứ cần phải hiểu quá khứ, chống lại cái cũ cần hiểu cái cũ.
tháng mấy chòng chành ước nguyện
nhẹ nhàng anh nói lời yêu
cứu vớt đời nhành cúc mỏng
yêu - không yêu; tả tơi chiều 
tháng mấy mặt trời hôn vội
mây hồng ráng đỏ bên sông
bắt đầu mà thương thấy tội
nụ cười sưởi ấm hờn đông
Chúng ta muốn nhìn thấy nhiều hơn trong thơ chị khía cạnh thiên nhiên và xã hội, vốn thiếu vắng trong thơ tình. Cùng với một số nhà thơ cùng thế hệ, chị là tiếng nói độc đáo, mạnh mẽ, cất lên từ lồng ngực một người tình, người vợ, người mẹ, sống xứ người, làm việc trong môi trường tiếng Anh nhưng làm thơ bằng tiếng Việt, một thế hệ trí thức mới trước đây chưa từng có. Thế giới qua mắt Hạ Vi là một thế giới phục vụ cho tình yêu; tôi tin rằng rồi đến một lúc chị sẽ mở rộng quan điểm ấy và nhìn thế giới trong những chiều kích lịch sử. Chị sử dụngthể thơ tự do không câu thúc, đó chính là điểm mạnh và điểm yếu. Trần Hạ Vi có khả năng gần như bẩm sinh, rút ngắn và làm mờ khoảng cách giữa người viết và người đọc, tạo ra sự thân mật mau lẹ, làm cho người đọc dễ hóa thân vào tác giả, sống chính cuộc đời ấy, ăn, ngủ như vậy, yêu đương và thổn thức như vậy, dày vò và sung sướng như vậy. Đó gần như là loại thơ thuộc khuynh hướng xưng tội của Mỹ, như của Sylvia Plath, nhưng mới mẻ hơn, hồn nhiên hơn.
sinh nhật anh mùa hạ
em chuẩn bị quà
đầu mùa đông
nửa năm
lệ chảy bao nhiêu dòng
vui mừng bao nhiêu phút
sinh nhật có bao giờ là đúng lúc
yêu nhau có bao giờ là đúng lúc
bút nhúng mực trăng
thơm giấy tỏ tình
Hình ảnh trong thơ chị xuất hiện ít nhưng đẹp;bài thơ đôi khi như giai thoại. Chúng ta vẫn chưa nhìn thấy hết tài năng và ảnh hưởng của những nhà thơ mới xuất hiện sau năm hai ngàn, trong nước hay hải ngoại. Thành tựu của họ khó xác định không những vì số lượng tác phẩm còn ít, mặc dù có người có sức viết ghê gớm, mà còn vì những chiều hướng nghệ thuật mà họ theo đuổi, táo bạo, bí ẩn. Lớn lên trong một xã hội ngày càng phân rã, những giá trị bị đảo lộn, tiếp cận thế giới bên ngoài giữa những thay đổi chóng mặt, có lẽ chị làm thơ để giữ mình lại trong quỹ đạo của ngôn ngữ và văn hóa Việt. Của tình yêu. Ngoài thơ tự do, chị cũng viết một vài bài thơ có vần, xúc động.
dã tràng hay còng đá
cũng là xe cát thôi
viên tình tròn vành vạnh
chìm kiếp sóng bạc vôi
con đường chiều trắng quá
nhạt nhòa đốm mắt môi
cuộc tình mình trắng quá
sao đã mất nhau rồi?
Xuất thân từ một ngành học không liên quan đến văn chương, ở một nơi xa cộng đồng Việt, ít khi về nước, chị vẫn giữ mối liên kết với quê nhà bằng ngôn ngữ và mạng xã hội. Như thế, viết là con đường trở lại với lịch sử và hy vọng mới. Thơ chị riêng tư, gần gũi, tin cậy, không êm ái dịu dàng mà gập ghềnh, thô ráp, nhiều chất văn xuôi. Tính chất văn xuôi làm cho thơ hôm nay có những đặc điểm: gần văn nói, xa vần điệu cổ điển, nhiều cách thể hiện ý tưởng, và tứ thơ trở thành xương sống. Mặt khác, ngôn ngữ nào cũng thay đổi, những chữ vốn cũ nay có thể mang nghĩa mới, và ngày càng sinh ra những kết hợp mới, vừa nhiều ý nghĩa vừa nhòe mờ: những thay đổi như thế giúp nhà thơ hôm nay có nhiều cách tiếp cận hơn với hiện thực, nhưng mặt khác cũng đưa người đọc đến với hai trạng thái, hoặc tăng cường hiểu biết hoặc làm họ ngoảnh mặt đi, gây sự phân cực trong độc giả.
bạn chờ gì
không dám yêu như đàn ông?
Không phải là một câu thơ tầm thường.
Có một sự thẳng thắn gần như tàn nhẫn, một sự sâu sắc che giấu cái nông nổi, và vẻ nông nổi che giấu sự sâu sắc. Cũng vậy, sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, nam và nữ, truyền thống và nữ quyền, sự buồn rầu trống rỗng và tình yêu cuộc sống, trộn lẫn trong bài thơ Trần Hạ Vi, làm cho thơ ấy trở thành một hỗn hợp hiếm, lạ.
em trải qua năm năm đọc ngôn tình
cùng với hai người bạn
sủng, sắc, ngược, huyền huyễn, hào môn
xuyên không, trùng sinh, hiện, cổ và cận đại
lớp lớp sóng tình nhấn chìm bờ đại hải
Lạ chưa phải là hay. Nhưng là khởi đầu phải có của người làm thơ, nhất là người làm thơ hôm nay. Bạn không có nó ư? Tôi thực không có nhiều hy vọng. Vì làm thơ bây giờ khó hơn ngày trước. Mối quan hệ giữa tính mơ hồ và tính trực tiếp, tuy vậy, thuộc về tay nghề của cá nhân tác giả: quá mơ hồ thì bài thơ không có sức sống, quá trực tiếp thì bài thơ trở thành thông báo. Đọc một bài thơ trong trẻo cũng tựa như khi bạn nghe tin tức đọc trên đài phát thanh, chữ nào tách bạch chữ đó; trong khi ở người không chuyên nghiệp, sự phát âm của chữ sẽ dính vào nhau. Tính đa nghĩa của một câu thơ không liên quan gì đến sự trong sáng của nó, thậm chí ngược lại: một câu thơ càng trong sáng, ý nghĩa càng tích tụ nhiều lớp.
những đau đớn lòng ngày xưa đã ngủ yên
em có yêu anh như người thay thế
trời buông nắng xế
héo nhành hồng
héo cả lá thư tay
Từ vựng của trần Hạ Vi gồm những chữ thông dụng. Chị không cố gắng sinh ra chữ, không dùng ngôn ngữ như một cách làm mới, không dùng các dấu chấm, dấu phẩy, xuống dòng để làm bài thơ trở nên lạ. Chị chấm câu và dùng chữ chính xác.
cảm giác em sẽ ngồi với anh thật lâu
và sau anh cũng không còn yêu ai nữa 
bức tường xây dang dở màu vôi vữa
có những tình yêu vĩ đại hơn gái với trai
Không, không phải chính xác, mà là giản dị.
Một trong những công việc của thơ ca là nhắc cho chúng ta nhớ lại. Nhớ lại lịch sử, tội ác, lỗi lầm, tình yêu, chia lìa, đoàn tụ. Con người ngày càng trở thành tù nhân không phải của quá khứ mà là của cái chưa tới: sự lo âu. Chúng ta quan tâm quá nhiều đến chúng ta chăng, trong một thế giới ngày càng bất ổn?
thơ cho người đàn ông vô tư
vô cùng đặc biệt
99% là sản phẩm của trí tưởng tượng
Ngay cả sự đau khổ cũng được làm mới lại. Thơ có cả tối và sáng, thực ra thơ của ai cũng thế, nhưng ở chị chúng luân phiên thay đổi mau lẹ, như các cảnh trong phim. Khả năng chiếu rọi của chị vào hiện thực là đặc biệt, khả năng ấy sẽ còn được tăng cường hơn nữa nếu chị sử dụng một ngôn ngữ điêu luyện.
Không phải là một người có quan điểm nữ quyền rõ rệt, chị mang lại tiếng nói mới của một phụ nữ ở ngoài đất nước và, trong khi mối liên hệ của chị với quê hương vẫn còn đó, đang góp phần chỉ ra những hướng đi mới cho văn học của thế hệ mới, sự hội nhập dễ dàng và không mặc cảm, cách nghĩ ngợi về tự do, không định kiến, đương đại nhưng vẫn giữ hơi thở đằm thắm phương Đông. Người đọc có thể kỳ vọng rằng Trần Hạ Vi sẽ ngày càng làm mới hơn ngôn ngữ thơ ca của mình, một ngôn ngữ sẵn sàng đối diện với quá khứ nhưng bao giờ cũng hướng tới hiện tại, làm mới cảm xúc của chúng ta về thế giới, một thế giới biến động, pha lẫn buồn rầu đau đớn và hạnh phúc dịu dàng. Thơ Trần Hạ Vi đến nay vẫn còn dừng lại phần nhiều ở thơ tình. Tôi tin rằng về sau chị sẽ khai thác những đề tài khác, và cách viết cũng còn thay đổi. Tuy nhiên ấn tượng lớn nhất trong thơ chị phát ra từ quan hệ đối lập giữa lòng tin và sự ngờ vực, sự đồng cảm và cô đơn, cái bồng bột và cảm giác nhẫn nại, niềm hạnh phúc và sự chán nản cùng cực, đôi khi vô cớ, và cuối cùng, tính châm biếm và sự tha thứ. Trần Hạ Vi đi tìm tương tác giữa các cực đối lập và xác lập cân bằng cho mình ở đó: con đường đi tới của thơ chị.
ngày đầu tiên gặp anh
em sẽ khóc
những giọt nước mắt lăn ra như ngọc
dỗ dành nuôi sống cuộc tình xa
Thơ Trần Hạ Vi cũng còn là lòng biết ơn đối với cuộc đời. Lòng biết ơn không dựa trên sức mạnh, tài năng, dũng cảm, những thứ mà tôi tin là chị có, mà dựa vào sự không toàn hảo. Sự không toàn hảo của vũ trụ, của con người, mỗi chúng ta. Lòng biết ơn làm cho chị trở nên thanh thản, giúp chị vượt qua bóng tối của đời mình. Thưởng thức đời sống, yêu mến nó, hân hoan biết ơn nó là một trạng thái của Trần Hạ Vi, trong trạng thái ấy không phải người ta quên bẵng đi người khác, mặc kệ thế giới, như người sống lạc quan ảo tưởng.
cong môi nhớ nụ hôn đầu
cái duyên con gái nhạt màu thanh tân
nhón tay vạt áo nhẹ nâng
thềm nghiêng nắng nhẹ chiều dâng hồn chiều
Nếu mọi thứ đều trôi chảy, ngày nào cũng đẹp như ngày nào, chúng ta sẽ không biết ơn cái đẹp, sự trôi chảy: đêm tối làm ta chiêm ngưỡng ánh sáng. Trạng thái thứ hai của Trần Hạ Vi, mặt khác, sự u ám đau buồn, mất lòng tin, sự rã rời, trong khi làm một nhà thơ đau khổ, thì cũng làm người ấy tràn đầy lòng yêu thương trước ngày mới. Thơ chị là ý thức đối với đời sống. Nếu thành công, mà tôi tin chị sẽ, thơ Trần Hạ Vi là sự thức tỉnh. Thơ chị nhắc chúng ta về sự cần thiết của tình yêu, bất chấp những trắc trở, ly biệt. Thơ tình ấy có tính nhân đạo, chiếu sáng ngay cả trong bóng tối, chính là sinh ra từ bóng tối. Đó là một món quà mà trời đất ban tặng cho người phụ nữ, và chị mang đi để tặng lại cho người đọc chúng ta.

NĐT

TÌNH XƯA

 


TÌNH XƯA

Gặp em giữa buổi trưa nay
Ly trà chợt đắng nhớ ngày năm xưa
Thời gian lặng lẽ thoi đưa
Hai năm kỷ niệm tình đầu đôi ta
Trăm năm rồi sẽ chóng qua
Niềm tin gắn bó cùng ta tăng dần
Thương em thương nhớ vạn phần
Bao lời anh gửi những vần chắt chiu
Chiều buồn nhìn bọn liu điu
Mong em giữ trọn tình yêu lâu bền
Bằng lăng màu tím buồn tênh
Còn non, nước Việt, chúng mình còn yêu
Dẫu rằng cách trở trăm chiều
Tình ta vẫn giữ vạn điều sắt son

     Hoàng Huy

GỬI BẠN TRI ÂM

 GỬI BẠN TRI ÂM Mong%20c2opy3

GỬI BẠN TRI ÂM
Đường đời vốn lắm nhiêu khê
Hồn thơ hội ngộ, trăng thề  yêu thương
Câu thơ dẫn lối, đưa đường
Động viên hỗ trợ, khẩn trương mọi miền
Đệ huynh xướng họa bén duyên
Chị em hòa điệu là men say đời
Bạn thơ nơi chốn xa xôi
Hoàng Huy xin gửi mấy lời tri âm
Bốn phương tuy có xa xăm
Nhưng ta đã có câu thơ làm cầu
Nhớ câu nghĩa nặng, tình sâu
Đường dài cũng sẽ gặp nhau đó mà
Thương nhau đâu ngại đường xa
Lời thơ  Đất Việt - đậm đà sắc Xuân.
 
Nhà thơ Luật gia.Hoàng Quốc Huy
 Bút danh.Hoàng Huy

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

VĂN HOÁ TỐI THIỂU CỦA MỘT HỌC SINH TIỂU HỌC NGÀY XƯA

 VĂN HOÁ TỐI THIỂU CỦA MỘT HỌC SINH TIỂU HỌC NGÀY XƯA


1. Khi người khác rót nước cho mình, đừng chỉ ngồi yên nhìn người ta mà hãy đưa tay ra nâng cốc, điều đó thể hiện phép lịch sự.


2. Khi người khác nói chuyện với mình, ít nhất cũng phải đáp lại người ta một câu. Đừng để người ta nói xong một câu lại nhận về được sự im lặng hoặc câu nói À, Ừ, Ờ, đúng rồi cùng với sự khó chịu.


3. Dùng bữa xong nên nói: "Tôi ăn xong rồi, mọi người cứ ăn đi nhé!"


4. Khi đưa đồ cho người khác nên đưa bằng hai tay.


5. Lúc ăn cơm nên cầm bát lên, không được dùng đũa đảo lộn thức ăn, không gõ bát đũa.


6. Người đi vào cuối cùng nên đóng cửa.


7. Tiễn người khác về nên nói: "Đi cẩn thận nhé!", đợi khách đi xong mới vào nhà.


8. Rửa tay xong không nên tùy tiện vẩy tay, để nước bắn lên người khác sẽ rất bất lịch sự.


9. Khi đưa dao hoặc vật nhọn cho người khác, nên đưa phần chuôi hướng về họ.


10. Không nên công khai điểm yếu của người khác.


11. Khi người khác nói chuyện với mình hãy chú ý vào người ta, đừng đảo mắt nhìn xung quanh.


12. Khi rót trà hay rót nước cho người khác xong, không nên quay vòi ấm về phía họ.


13. Đi, đứng, ngồi, nghỉ cần đúng tư thế, tác phong.


14. Nói được phải làm được. Nếu không làm được thì đừng hứa.


15. Nếu trong phòng có người, khi ra ngoài nên đóng cửa nhẹ nhàng.


16. Khi đưa đồ cho người khác mà ở giữa cách một người, không nên đưa thẳng ra trước mặt người ta mà nên vòng qua phía sau.


17. Học cách dịu dàng và biết lắng nghe.


18. Đến chơi nhà người khác, đừng tùy tiện ngồi lên giường nhà người ta.


19. Ăn cơm cố gắng đừng phát ra tiếng.


20. Lúc nhặt đồ hoặc đi giày nên ngồi thấp xuống chứ đừng cúi người, khom lưng.


21. Khi bị phê bình, dù người khác có sai đi chăng nữa cũng đừng vội phản bác, nên đợi họ nói xong bình tĩnh lại hẵng giải thích.


22. Làm việc gì cũng nên có điểm dừng thích hợp, bất kể là ăn món mình thích hay tức giận điều gì đó.


23. Đến nhà bạn ăn cơm nên chủ động rửa bát hay xếp dọn bàn ăn.


24. Trong cuộc sống bạn sẽ phải gặp nhiều thể loại người khác nhau, chắc chắn không phải ai bạn cũng có thể hòa hợp được nhưng có một câu nói luôn đúng trong mọi trường hợp: Bạn đối xử với người khác thế nào, người ta sẽ đối xử lại với bạn như vậy.


25. Dù là ai, trong trường hợp nào cũng đừng dễ dàng kể bí mật của mình với người khác.


26. Học hành là chuyện cả đời. Chỉ học kiến thức trong sách thôi là chưa đủ, phải học cả kiến thức xã hội. Thực tế cuộc sống luôn phức tạp hơn những gì bạn nghĩ.


27. Dũng cảm nhất là khi nhận ra sự tàn khốc của cuộc sống nhưng vẫn yêu cuộc sống này cháy bỏng. Đừng sợ sự dối trá, nhưng cần phải biết cuộc sống luôn tồn tại sự dối trá.


28. Khi lau bàn nên lau hướng về phía mình.


29. Khi gọi điện thoại hoặc nghe điện thoại, câu đầu tiên phải luôn là: "Alo, chào.... ạ!". Khi tắt máy, nếu người kia là người lớn tuổi hơn bạn hoặc là cấp trên của bạn thì tốt nhất bạn nên chờ họ tắt điện thoại trước, còn nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc cấp trên của họ thì bạn nên chủ động tắt máy trước, đừng để người ở đầu dây bên kia phải đợi.


30. Đừng khạc nhổ hoặc vứt rác bừa bãi. Nếu nơi đó không có thùng rác, hãy cầm rác về vứt vào thùng rác nhà mình.


31. Bất kể trong hoàn cảnh nào cũng nên đánh răng cẩn thận, đặc biệt là vào buổi tối.


32. Tuyệt đối đừng bao giờ bỏ bữa sáng. Nếu không ăn sáng thì cũng phải uống nước hoặc uống sữa.


33. Đỗ xe nên đỗ đúng nơi quy định, chừa không gian cho người khác mở cửa xe, đầu xe nên hướng ra phía ngoài để tiện rời đi.


34. Nếu là cửa thủy lực, dù là cửa đẩy hay cửa kéo cũng nên làm theo quy tắc "Ra trước vào sau". Nếu phía sau có người nên giữ cửa chắc, tránh để cửa bật lại va vào người khác. Khi có người mở cửa giúp mình đừng quên cảm ơn họ.


35. Phép lịch sự nên áp dụng đối với tất cả mọi người, bất kể họ là cấp trên, là người lớn tuổi, là nhân viên phục vụ hay là cô chú lao công bên đường.


ST.


LIỆU CÓ MỘT NGÀY, MÔN LỊCH SỬ SẼ BỊ LÃNG QUÊN?

 LIỆU CÓ MỘT NGÀY, MÔN LỊCH SỬ SẼ BỊ LÃNG QUÊN?



Bài báo: “Lịch sử là môn học bắt buộc, không phải tùy chọn” được đăng trên Chosun vào năm 2013 đã gây chấn động Hàn Quốc, bởi giáo sư Kim Bo Rin của Đại Học Quốc Gia Chungbuk tiết lộ thông tin rằng nhiều học sinh, sinh viên năm nhất theo học tại đây không biết tướng Douglas MacArthur là ai. Đây là vị tướng chỉ huy quân đội Hoa Kỳ hỗ trợ Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh bán đảo Triều Tiên (1950 - 1953). Giáo sư Kim Bo Rin nhận định rằng: “Giáo dục lịch sử phải liên tục, và vì mục tiêu này, giờ học lịch sử cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông không được giảm”.


Từ năm 2005, Hàn Quốc cho phép các môn khoa học xã hội trong khối phổ thông là môn tự chọn và hệ lụy là tỷ lệ đăng ký học Lịch sử giảm dần đều theo thời gian. Và kéo theo đó là một lụy về một thế hệ trẻ không biết chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào thời gian nào, không biết gì về tướng Lý Thuấn Thuần - vị tướng nổi danh nhất lịch sử dân tộc Triều Tiên, vị thế tương đương với tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam. Cuối cùng, Hàn Quốc đưa lịch sử trở lại giáo dục bắt buộc vào năm 2017. Kỳ thi quốc gia CSAT bắt buộc phải có lịch sử. Sau Hàn Quốc thì Nhật Bản tái khởi động chương trình đưa trở lại môn Lịch sử vào trong chương trình THPT bắt buộc vào năm 2019. Bên cạnh đó, giáo dục lịch sử được chú trọng rất mạnh trong bằng cách kết hợp với các môn liên quan đến chữ viết, văn hóa Nhật hay văn học Nhật.


Ba quốc gia ở Đông Á là Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đều đang diễn ra một cuộc “cạnh tranh ngầm” trong giáo dục lịch sử, địa lý. Hàn Quốc lồng ghép những chi tiết liên quan đến thời kỳ Nhật chiếm đóng, Nhật thì lồng ghép các vấn đề chủ quyền đảo Dokdo - Kuril - Senkaku. Còn Trung Quốc thì không thể không đưa vấn đề Đài Loan, các vấn đề chủ quyền… vào giảng dạy chính thống bắt buộc. Giáo sư Huang Hua của ĐH Sư phạm Sơn Tây, Trung Quốc viết trên Nhân dân nhật báo: “Giáo dục lịch sử Trung Quốc nhằm nâng cao phẩm chất nhân văn tinh hoa của công dân, giáo dục bản sắc Trung Hoa và tình yêu nước. Gia tăng sự tự tin, trách nhiệm của công dân. Giúp định vị Trung Hoa giữa thế giới và ngăn chặn chủ nghĩa bịa đặt lịch sử”.


Vậy, Việt Nam - một quốc gia đồng văn Đông Á, đang làm gì với môn lịch sử ở bậc THPT? Nói tóm gọn lại là: “Thích thì học, không thích thì nghỉ”. Vì Lịch sử đã trở thành một môn học tự chọn, không bắt buộc đối với thế hệ bắt đầu học THPT từ năm 2022 trở đi. Lại thêm một tin xấu với môn học vốn đã phải chịu quá nhiều tiếng xấu khác, ví dụ như là môn học có điểm trung bình thấp nhất, có nhiều điểm liệt nhất trong kỳ thi THPT…


Theo một khảo sát nhỏ mình nhận được từ một bạn giáo viên THCS tại TP. HCM, có khoảng 85% các em nhỏ tại ngôi trường này sẽ chọn các môn khoa học tự nhiên (Lý - Hóa - Sinh) vào năm tới, phần còn lại là phân vân. Đó là một dự báo mang tính tham khảo nhưng lại rất dễ có thể xảy ra. Vì cách đây 7 năm vào kỳ thi THPT Quốc gia 2015, chỉ có 150 ngàn thí sinh chọn Lịch sử là môn thi, tương đương 10% số thí sinh. Vào năm ấy, người ta đã đặt ra câu hỏi rằng, đang là môn bắt buộc mà còn bị “ngó lơ”, nếu bỏ qua hay áp Lịch sử thành môn “tự chọn”, thì con số sẽ còn thảm hại đến thế nào.


Một số chuyên gia giáo dục cho rằng việc giảm tải Lịch sử, biến Lịch sử thành môn tự chọn không bắt buộc là cần thiết, để phát huy giáo dục khai phóng giống như các nước Anh, Pháp, Úc. Nhưng, đó là các quốc gia phương Tây, có bối cảnh xã hội, lịch sử, chính trị, dân tộc… quá khác biệt so với Việt Nam. Tại sao các chuyên gia này không lấy Trung, Nhật, Hàn ra để so sánh? Rõ ràng, Trung, Nhật, Hàn đồng văn với chúng ta. Họ cũng là các quốc gia phát triển nhưng vẫn giữ được tính dân tộc cao. Khi các quốc gia này đã đưa trở lại hoặc vẫn luôn duy trì vị thế bắt buộc của bộ môn Lịch sử thì chúng ta lại đang làm khác họ.


Các chuyên gia cũng cho rằng Lịch sử chỉ cần dạy đến hết bậc THCS là đủ. Nhưng các chuyên gia giáo dục Hàn lại chỉ ra rằng đây là quan niệm sai lầm và cần phải khắc phục. vì giáo dục Lịch sử mang tính liên tục và duy trì, không thể “đứt đoạn”. Tư duy của học sinh THCS không thể trưởng thành bằng tư duy của học sinh THPT. Học sinh THCS chỉ tiếp thu kiến thức, nhưng học sinh THPT có thể bàn luận, đúc kết, rút ra kiến thức. Việc duy trì dạy Lịch sử liên tục cũng là một cách để chống những “luận điệu sai trái từ các quốc gia khác” - trong trường hợp của Hàn Quốc là Nhật Bản.


Năm 2013, Bộ Công an và An ninh Hàn Quốc công bố số liệu khảo sát giật mình rằng, có tới 52% học sinh Hàn Quốc không biết ngày nổ ra và kết thúc chiến tranh Triều Tiên, 31% không biết về việc lính Nhật đã từng hành hạ phụ nữ Triều Tiên, 86% không rõ về chủ quyền Hàn Quốc tại đảo Dokdo. Đó là những con số cay đắng sau khi Hàn Quốc đã biến Lịch sử trở thành môn “tự chọn”. Tờ DHNews Korea bình luận: “Lịch sử đã bị lãng quên, cần được giáo dục đúng mức”.


Hãy thử nghĩ xem, sau khi áp Lịch sử thành môn tự chọn, có lẽ sẽ có những lớp người Việt không biết về ngày 30/04/1975 hay 02/09/1945, không rõ về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa - Bạch Long Vĩ… Rồi sự xuyên tạc lịch sử ngày càng nhiều hơn, chủ nghĩa bịa đặt lịch sử và xét lại lịch sử sẽ đến.


Với thời nay, môn Lịch sử là bắt buộc, mà còn la liệt những đám xét lại, một đám người nói cuộc chiến thống nhất Tổ Quốc là “nội chiến”, bênh vực cho Pháp đô hộ Việt Nam là khai hóa nền văn minh, nói Quang Trung - Nguyễn Huệ là hai anh em… Vậy tương lai của môn Lịch sử sau này sẽ ra sao? Kéo theo đó là tương lai đất nước của chúng ta sẽ thế nào? 


Trong bài viết luận bàn về việc dạy học lịch sử trong khối phổ thông là cần thiết của đài truyền hình NHK có câu: “Không có tương lai cho một quốc gia tự lãng quên đi lịch sử của chính mình”. Còn chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút ra rằng: “Dân ta phải biết sử ta - Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.


#tifosi 


Tư liệu tham khảo chính


1. "잊혀지는 역사, 제대로 된 교육이 필요하다!" - DHNews Korea

2. "역사는 '필수' 과목이지 '선택' 아니다" - JB News

3. 加强高校历史通识课程建设之我见 - People China Daily.


Và số tư liệu tiếng Anh, tiếng Nhật khác.


Trong hình là Đại tá Nguyễn Đỗ Sa đứng tại bãi biển Mỹ Khê năm 1994.

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 4)

 



Văn hóa tận dụng của geisha là tiếp thu các lợi thế của văn hóa Âu- Mỹ và phát huy nghệ thuật truyền thống để thu hút khách, phô trương sự lịch lãm, sang trọng. Chương trình Tokyo Rose thời Thế chiến II dùng giọng nữ tuyệt vời đã làm chao đảo tinh thần quân đồng minh. Kiharu Nakamura, một geisha nổi tiếng nhất với biệt danh geisha duy nhất nói được tiếng Anh, trở thành cầu nối về văn hóa giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. nhiều nghệ sĩ và ngôi sao thể thao thế giới đã từng thưởng thức tài nghệ múa hát của Kiharu. Bà cũng chính là nguồn cảm hứng để Cocteau viết nên bài thơ Geisha.Vấn đề mặc quốc phục cũng là một biểu hiện giữ gìn bản sắc của ả đào và geisha. Ngoài nghệ thuật, hình thức cũng là một cách thể hiện văn hóa cổ truyền: người hát trong trang phục truyền thống sẽ khác biệt rất nhiều so với người hát ăn mặc Âu phục.
Sự quan tâm ngày càng cao đối với geisha và ngoại hình đặc biệt của họ đã khơi lên nhiều hiện tượng văn hóa đại chúng ở cả Nhật Bản và phương Tây. Gần đây nhất là phong cách trang điểm kiểu geisha được đề xướng sau thành công và sự nổi tiếng của tiểu thuyết Hồi ức của một geisha và bộ phim cùng tên. Ca sĩ Madonna xuất hiện trên video âm nhạc Nothing Really Matters (1999) trong trang phục kimono cách điệu với trang điểm đậm màu như một geisha.
Ở Việt Nam, không có văn hóa tận dụng này, nguyên nhân chính là do tầng lớp trí thức theo xu hướng hoài cổ không nhiều. Những năm sau 1945, Mỹ ném bom vào xóm Khâm Thiên (Hà Nội), Nguyễn Tuân đã gọi đó là “hành động cư xử thô bạo với tiếng hát ả đào”. Suốt những năm chiến tranh chống Mỹ, tiếng hát ả đào tưởng bị lãng quên, thập niên 80 (TK XX), tiếng hát ả đào mới được Trần Văn Khê giới thiệu ra quốc tế, đào nương Quách Thị Hồ mang vinh quang về cho đất nước với bằng danh dự của UNESCO, các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trên thế giới bắt đầu bị mê hoặc bởi giọng ca độc đáo này. Có thể nói, ca trù được thế giới biết đến nhờ tiếng hát ả đào Quách Thị Hồ trực tiếp hoặc gián tiếp qua đĩa CD đầu tiên mà UNESCO phát hành có tên ca trù.
Đối phó với làn sóng Âu Mỹ hóa, bào mòn văn hóa truyền thống, chính quyền Việt Nam cũng như Nhật Bản có hai cách: cách tiêu cực là cấm hẳn nghề ả đào và geisha, cách tích cực hơn là tìm việc làm mới cho những nghệ nhân, nghệ giả này, đưa họ vào hệ thống quản lý, xem như một nét văn hóa cần bảo tồn. Cũng như ả đào, geisha cũng chịu áp đặt bởi văn hóa Âu Mỹ mà sản phẩm chính là khiêu vũ.
Phản ứng cá nhân trước thời cuộc, các ả đào Việt Nam chọn con đường mai danh ẩn tích, đi làm thuê… trở về với công việc nhà nông là nguồn gốc xuất thân của họ. Trong nhận thức, ả đào hành động theo cảm tính phụ nữ Việt Nam giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Lịch sử đã ghi nhận những chiến công của các ả đào như nàng ca nhi Đào Đặng lập mưu giết giặc Minh, các ả đào hạt Quảng Yên phá súng thần công giặc... Còn geisha thì không tham gia chiến đấu, nhưng họ nhận thức bằng lý trí. Họ biết phát huy ưu điểm là sự cầu kỳ, giỏi thích nghi, khéo chiều chuộng, xa xỉ, khó gần (chỉ có giới quý tộc và doanh nhân mới trả nổi cái giá rất đắt để được gặp geisha). Nhưng điều đó lại càng khiến geisha trở nên hấp dẫn tính hiếu kỳ của mọi người hơn. Văn hóa Nhật còn cho geisha cái đặc quyền được lựa chọn đối tượng phục vụ. Vì người Nhật ưa thực tế hơn và sẵn sàng dẹp bỏ tính tự tôn để thích nghi với tình huống mới. Lối ứng xử này mang đặc trưng rất geisha.
Văn hóa ả đào và văn hóa geisha là hiện tượng có thật, đã từng tồn tại trong lịch sử hai nền văn hóa Việt - Nhật. Đó là văn hóa giải trí, hiểu đơn giản là hình thức mượn tiếng mỹ nhân để thưởng ngoạn nghệ thuật.
Là hiện tượng văn hóa nghệ thuật, đồng thời cũng là hiện tượng xã hội, Ả đào và geisha vừa sống trong môi trường chính trị xã hội hiện hữu vừa sống trong môi trường văn hóa dân tộc, trở thành hình tượng văn hóa của mỗi quốc gia.
Cần phân biệt rõ sự lựa chọn nào của ả đào và geisha là văn hóa và sự lựa chọn nào là phi văn hóa... để có cái nhìn khách quan và nhân văn khi đánh giá ả đào và geisha. Từ đó, hai bên có cách quản lý văn hóa tích cực, giúp phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc.
Hiện tại ở Việt Nam và Nhật Bản còn rất ít những ả đào  geisha thực thụ có được thành công như những gì mà tổ nghề của họ đã gây dựng nên. Thế giới văn hóa tao nhã của ả đào và geisha đang có xu hướng bị thu hẹp, ít mang tính truyền thống hơn để thay vào đó những hình thức giải trí phục vụ số đông. Cũng ít ai bận tâm đến văn hóa truyền thống của hai hình tượng này còn gì là bản sắc, có gì là tiếp biến văn hóa hay không. Chính vì vậy, nét sâu sắc, ý vị của ả đào  nét huyền bí của geisha cần phải được khai thác ở nhiều góc độ.
NGUYỄN HOÀNG ANH TUẤN
Theo http://www.vnq.edu.vn/

Ả ĐÀO VIỆT NAM VÀ GEISHA CỦA NHẬT BẢN (Phần 3)

 


Hệ quả của cấu trúc văn hóa đã tạo điều kiện cho nghề ả đào và geisha một khả năng giao tiếp rộng, ma lực hấp dẫn cao nên nó đóng vai trò định hình bộ mặt văn hóa xã hội. Tiền đề này đã tạo nên một cấu trúc võ sĩ  geisha trong lịch sử, văn chương và văn hóa. Hình tượng kỹ nữ đi vào văn học, như tác phẩm Xứ tuyết của Kawabata mang trong mình niềm mê hoặc đặc biệt về phụ nữ Nhật Bản - điển hình là giới geisha. Ở Việt Nam, tác phẩm Chùa đàn của Nguyễn Tuân cũng dấy lên sự nỗi ám ảnh huyền hoặc về tiếng hát của ả đào có khả năng cứu rỗi số phận một con người, một cộng đồng thôn Mê Thảo.
Mặt khác, nhìn vào cấu trúc văn hóa văn nhân - ả đào, võ sĩ- geisha, ta cũng phần nào hiểu được khả năng tiếp biến văn hóa của người Việt và người Nhật giai đoạn trung cận đại.
Cùng tiếp thu tư tưởng của Nho giáo Trung Hoa, nhưng Việt Nam và Nhật Bản có sự khác nhau. Để tiếp thu cách quản lý tập quyền của Nho giáo, Việt Nam thì rập khuôn, ngay cả giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, chính quyền cũng dựa trên chỉ một bộ máy trung ương- triều Lê, nghĩa là bộ máy quan chế của ta hoàn toàn giống như Trung Quốc. Còn ở Nhật Bản thì theo một hướng khác. Thời trung đại, Nhật Bản đã có 300 lãnh chúa cát cứ, đứng đầu là một lãnh chúa mạnh nhất Mạc Phủ kiêm tể tướng, một đại tướng quân- shogun chứ không phải một bộ máy quan liêu như ở nước ta. “Vì không có bộ máy quan liêu nên nó không dựa vào kẻ sĩ mà phải dựa vào võ sĩ, không có đẳng cấp sĩ phu mà chỉ có thứ bậc võ sĩ”.
Ngoài Nho giáo, ả đào và geisha có chung ảnh hưởng Đạo giáo và tín ngưỡng thờ vật linh. Khởi thủy, geisha là những con đồng ở phái thần đạo, tiêu biểu cho chủ nghĩa khoái lạc - cũng đeo vàng dát ngọc, cũng tin thần linh, bất cứ nhà geisha nào cũng có mèo xứ, sành hay một con cáo - thần Inari, họ tin rằng cáo chạy nhanh sẽ mang những lời cầu khẩn của họ lên trời mau hơn. Ả đào thì thờ Thanh Xà đại vương và Mãn Đường Hoa công chúa (Đinh Lễ - Bạch Hoa) và các vị thần của Đạo giáo như Đông Phương Sóc, Lã Đồng Tân…
Bên cạnh đó, phần lớn các loại hình nghệ thuật ả đào và geisha đều tiếp thu cảm nghiệm của Phật giáo. Nghệ thuật hát ả đào lấy cảm hứng chủ đạo từ triết lý của nhà Phật. Nhiều loại hình nghệ thuật geisha sử dụng như: trà đạo, hoa đạo, hương đạo, thư pháp… cũng nằm trong trường ảnh hưởng của Phật giáo Thiền tông.
Cái đẹp của ả đào và geisha cũng ít nhiều tiếp thu từ cái nhìn mỹ học Trung Hoa, một hệ thống quan điểm về nghệ thuật làm đẹp của nữ giới theo hai hướng mỹ cảm: trau chuốt cầu kỳ đến mức điêu luyện; theo cái đẹp tự nhiên chân chất, mộc mạc nhưng sâu xa, ý vị.
Về mặt này thì Nhật Bản có ưu thế hơn Việt Nam vì tính duy mỹ là văn hóa truyền thống lâu đời của Nhật. Trong Cổ sự ký (Kojiki), huyền tích về thuở hồng hoang Nhật,Thái dương thần nữ Amaterasu là nữ thần của ánh sáng và sắc đẹp. Geisha được miêu tả cụ thể với hình tượng người con gái có làn da trắng xóa như búp bê sứ, đôi môi đỏ chót rực rỡ và đôi chân mày cong vút thanh mảnh đầy duyên dáng. Trang phục kimono: mùa nào các geisha cũng phải thắt lưng (obi) bằng tấm lụa thêu rực rỡ quấn mấy vòng quanh bụng và buộc nút sau lưng, trông như đeo cái trống cho nên còn gọi là nơ trống. Cho thấy, geisha có cả một nghệ thuật trang điểm và làm tóc.
Ở Việt Nam, cái đẹp của ả đào chỉ mang tính ước lệ tổng hợp qua mấy câu thơ của văn nhân xưa (khuyết danh): “Mặt tròn thu nguyệt / Mắt sắc dao cau / Vào - duyên khuê các / Ra - vẻ hồng lâu / Lời ấy gấm - Miệng ấy thêu - Tài lỗi lạc chẳng thua nàng Ban, Tạ / Dịu như mai / Trong như tuyết - nét phong lưu chi kém bạn Vân - Kiều”. Trang phục “đầu vấn khăn, mặt tô son, điểm phấn, tóc bỏ đuôi gà, mặc áo năm thân dài quá gối, màu xanh điểm hoa (có khi dùng màu khác), cài khuy bên phải, quần dài đen chấm gót như các tố nữ trong tranh tứ bình...”. Trong lúc diễn xướng, làm trò, ấn tượng ả đào để lại cho người xem là sự trang nghiêm, trông có vẻ thụ động, có phần âm tính hơn geisha.
Cái đẹp của ả đào tương quan với cái đẹp của geisha.
Ả đào
Geisha

Ngoại hình
Tiếp thu mỹ học Trung Hoa
Xu hướng tự nhiên chân chất, mộc mạc nhưng sâu xa, ý vị
Xu hướng trau chuốt cầu kỳ, điêu luyện, khắc vàng, vẽ nét
Vẻ đẹp tổng quan
Như tranh dân gian giản dị, cổ điển dễ gần
Như búp bê sứ
giả tạo, xa vời, xa xỉ
Trang điểm
Hài hòa, chỉnh chu
Công phu, cách điệu (hát tuồng, mặt nạ, tóc giả)
Trang phục
Áo dài và áo tứ thân ( bình dân)
Cử chỉ, điệu bộ
Thụ động, ít động tác, ít dùng phi ngôn ngữ
Dịu dàng, uyển chuyển, mềm dẻo, nhiều động tác và phi ngôn ngữ
Nội hình
Đức tính
Giỏi chịu đựng
Khéo chiều chuộng
Nhận thức
Cảm tính
Lý tính, thực dụng
Nghệ thuật
Thể loại
Đơn nhất: ca trù
Đa dạng: nhạc, thơ, văn, múa, trà đạo, cắm hoa, thư pháp…
Múa & nhạc cụ
Giản tiện: múa bài bông, nhạc cụ: đôi phách
Phong phú: múa cây tùng, cây bách, anh đào… nhạc cụ: đàn, sáo, trống…
Kỹ năng
Chuyên sâu
Bao quát, tổng hợp
Kết luận
Thiên về cái đẹp truyền thống
Kết hợp cái đẹp truyền thống và hiện đại, hơi đặc biệt, tạo sự thu hút, hiếu kỳ