Translate
Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015
Muôn vẻ mỹ nhân Việt khoe sắc bên hoa sen
Mỗi người mỗi vẻ khác nhau để khoe nét đẹp duyên dáng bên hoa sen.
Mỗi khi tháng sáu về, mùi sen thơm dìu dịu lại tràn ngập trong không gian, những đóa sen nở nộ xua tan đi cái nắng oi ả của mùa hè. Ngắm sen, lưu giữ lại những khoảnh khắc đẹp về sen dường như khiến cho mọi người thấy yên bình, hạnh phúc hơn hơn, sống chậm lại để tận hưởng từng phút giây ngọt ngào của cuộc sống.
Vì thế, chụp ảnh với sen không chỉ "mê mẩn" giới trẻ mà còn có sức quyến rũ đối với các mỹ nhân Việt từ Bắc tới Nam.
Mỗi người mỗi vẻ khác nhau, nhưng ai cũng chọn cho mình những bộ trang phục đơn giản, không cầu kì để khoe nét đẹp duyên dáng, e ấp.

Midu đẹp dịu dàng, thanh khiết bên hoa sen
Dường như mùa hè trở nên mát mẻ hơn trước vẻ đẹp của Midu
Linh Nga lãng mạn giữa đầm sen thơm ngát
Linh Nga xinh đẹp như từng cánh sen hồng
Linh Nga rất hợp với hình tượng thiếu nữ Hà thành thanh lịch và quý phái
Hoa hậu Thế giới người Việt 2010 Diễm Hương nền nã với áo dài trắg, nón lá giữa đầm sen mênh mông
Áo dài trắng giúp cô khoe nét đẹp mềm mại
Angela Phương Trinh diện áo yếm tạo dáng bên sen
"Bà mẹ nhí" quyến rũ khi khoe lưng trần
Mặc dù sống ở Sài Gòn nhưng Thanh Thúy lại rất yêu sen Hà Nội
"Bà mẹ một con" Thanh Thúy đã ra Hồ Tây để chụp bộ ảnh đầy thơ mộng bên hoa sen
Á hậu Hoa hậu Việt Nam 2010 Thùy Trang
Với bó sen hồng bên tay, Thùy Trang duyên dáng với tà áo dài truyền thống
Á hậu Tú Anh giống nàng thơ trong tranh giữa đầm sen
Bức hình đẹp của Á hậu Tú Anh
Trà Ngọc Hằng khoác lên mình chiếc áo dài đỏ khoe sắc bên sen Hồ Tây
Trà Ngọc Hằng từng chia sẻ cô luôn bị cuốn hút đặc biệt bởi hoa sen
Yến Trang cũng bay từ Sài Gòn ra Hà Nội để kịp chụp giữa mùa sen nở rộ
Yến Trang thả hồn giữa đầm sen
Mỹ Uyên mơ màng, ghi lại khoảnh khắc buổi sáng mùa hè với sen Hà Nội
Mỹ Uyên hóa thành thiếu nữ Hà Nội xưa, e ấp bên hoa sen
Hoa hậu Ngọc Hân mặc áo yếm, khoe bờ vai mượt mà trong khung cảnh buổi sớm mai
Ngọc Hân còn có một bộ ảnh đẹp khác, khi diện áo dài duyên dáng chụp cùng sen tại Huế
Hoa hậu biển Nguyễn Thị Loan đằm thắm với áo tứ thân
Bên cạnh đó, nhiều người đẹp khác tuy không chụp bộ ảnh cầu kỳ nhưng cũng có những khoảnh khắc đẹp khi chụp với sen:
Á hậu Hoàng My đẹp tinh khôi trong tà áo dài trắng
Hoa hậu Mai Phương Thúy nhẹ nhàng, đằm thắm trong tà áo dài và bó sen trên tay
Nhưng cũng có lúc Mai Phương Thúy lại sang trọng, lịch lãm khi tạo dáng cùng sen
Hoa hậu Thu Thảo nhận được nhiều lời khen với bức hình diện áo dài đỏ truyền thống, tóc tết mái viền, tay cầm bó hoa sen
Hoa hậu Hương Giang mơ màng quyến rũ cùng sen trắng
Cần làm gì khi nhà có người thân qua đời ?
(bài tham khảo cho Gia đình Phật Tử)
Khi một người thân trong gia đình mất thì những người trong gia đình cần phải lo tẩm liệm, không nên để cho người xa lạ làm công việc này. Vì để cho người xa lạ tẩm liệm người thân của mình, có điều chi không vệ sinh họ sẽ nói thế này thế khác, không tốt và rất tội nghiệp cho người thân của mình.
Cho nên trách nhiệm những người trong gia đình khi có người thân mất thì phải tẩm liệm và an táng cho chu đáo đừng để người bên ngoài làm việc này. (Ở nước ngoài, mọi việc tẩm liệm này đều do Công Ty Mai Táng thực hiện).
Trong gia đình có người thân mất thì mọi người phải bình tĩnh, sáng suốt, và cần phải làm những việc như sau:
1- Việc đầu tiên là phải dùng nước ấm và khăn sạch lau khắp cơ thể người thân cho sạch sẽ rồi thay đổi quần áo mới. Bộ quần áo cũ xếp lại, sẽ bỏ vào áo quan, sau khi tẩm liệm.
2- Mua một bao trà khô (loại dùng để tẩm liệm) rải đều dưới đáy áo quan một lớp khoảng độ 2 phân.
3- Mua một tấm vải ba thước chiều dài và một thước sáu chiều ngang, nếu cư sĩ thì mua vải màu trắng, còn tu sĩ thì vải màu vàng. Nếu không có vải khổ rộng 1 thước 60 thì hai miếng vải khổ rộng 8 tấc dài 3 thước may ghép lại.
4- Trải tấm vải ấy ra rồi 4 người thân trong gia đình, con trai trưởng nâng đầu người chết còn những người khác: một người nâng chân, một người nâng bên hông mặt và một người nâng bên hông trái, nhẹ nhàng đặt thân người chết nằm ngay ngắn giữa tấm vải.
5- Cũng bốn người thân đó ở những vị trí như trên, mỗi người nắm mép vải và đồng giở lên một lượt rồi đặt thân người chết vào áo quan. Nếu người chết là nam thì mép vải bên trái phủ trước, rồi mép vải bên mặt phủ kế tiếp rồi đến mép vải trên đầu và cuối cùng mép vải dưới chân phủ lên là xong. Nếu là người nữ thì mép vải bên mặt phủ trước bên trái phủ sau. Sau đó, nếu muốn tẩm liệm theo những vật dụng gì thì nên để dưới chân người chết. Xong đậy nắp áo quan và đóng đinh lại.
6- Mọi người trong gia đình đồng khiên áo quan đặt ngay giữa nhà. Trước áo quan đặt một bàn thờ nhỏ có ảnh người chết và một lư hương để mọi người đến cúng điếu cắm hương chia buồn, mỗi người chỉ cần thắp một cây hương tượng trưng cho lòng chia buồn mà thôi.
Trang trí trên bàn thờ một dĩa trái cây, ngoài ra không nên chưng bông hoa, hay chưng gì nữa cả. (Ở đây, ý Trưởng Lão vì đức hiếu sinh không muốn thấy hoa bị cắt khỏi cành đem chưng trên bàn thờ trong ngày đau buồn tang khó này, ngoài ra chưng hoa chỉ làm đẹp mắt mà không thiết thực hữu dụng như trái cây. Ở nước ngoài, do văn hóa đời sống khác biệt, mọi người đều quý hoa, nên chưng hoa là chính (mà quên hoa cũng có đời sống của nó, nở lòng cắt hoa lìa cành mẹ). Cá nhân hay tập thể đi phúng tang mà không có tràng hoa hay vật phúng cụ thể thì trong lòng thấy ngại, nhất là khi tang gia không chấp điếu. Khi quan tài đã hạ huyệt xong thì mọi người đi đưa đều ném một cành hoa (hay một nắm đất) xuống huyệt là hành động cuối cùng tiển biệt người chết. Còn nếu thiêu thì sau khi đưa quan tài vào lò thiêu, các lẳng hoa đều cho vào thùng rác để giữ vệ sinh môi trường.
7- Đặt áo quan và bàn thờ nhỏ trong nhà xong thì những con cháu tề tựu đảnh lễ và ngay lúc đó người gia trưởng phát vải tang cho mọi người trong gia đình. Con trai và con gái thì đội khăn trắng phủ kín đầu (Ở đây, Trưởng Lão muốn tiết kiệm chi phí. Theo phong tục của người Việt, ngoài mũ còn có áo dài và quần rộng cùng một thứ vải màu trắng đó. Nếu chỉ dùng mặc trong lễ tang rồi đốt bỏ thì quả là không tiết kiệm. Nhưng thói quen của quần chúng rất khó bỏ. Chỉ những ai không ngại bị chê trách mới thực hành được việc này); hàng con dâu, con rể thì bịt một chiếc khăn trắng trên đầu như khăn đóng, trẻ em hàng cháu nội-ngoại thì một miếng vải trắng nhỏ cài trên ngực áo. Sau khi chôn cất xong trở về nhà thì khăn trắng được trả lại nơi bàn thờ, mọi người chỉ mang một miếng vải trắng nhỏ nơi ngực.
8- Người chết không nên quàn để lâu vì để lâu làm mất vệ sinh chung. Vì vậy sáng chết chiều chôn, chiều chết sáng chôn. Nếu có điều kiện cần để lâu thì chỉ nên một ngày đêm mà thôi.
9- Không nên rước thầy chùa tụng niệm cầu siêu vì người chết đã theo nghiệp tái sinh luân hồi ngay liền khi chết còn đâu mà cầu siêu. Đó là một việc làm mù quáng, mê tín.
10- Không nên rước nhạc trống kèn làm ầm ĩ. Đám ma là lúc mất mát đau buồn, có gì vui đâu mà kèn trống. Vậy nên tránh đàn kèn trống. Và nhất là đây không phải chỗ buôn bán thây người chết để lấy tiền.
11- Đưa áo quan lên xe tang để đi chôn cất thì không nên rải giấy tiền vàng mã theo đường, làm mất vệ sinh môi trường sống. Và nhất là không nên rướt thầy chùa ngồi tụng niệm ê a trên xe tang. Đó là hình thức lạc hậu, mê tín, thiếu văn hóa, không khoa học.
12- Hạ huyệt. Khi xe tang đến nơi thì áo quan chuyển từ trên xe đến huyệt, để áo quan ngay ngắn trên huyệt, và lúc bấy giờ con cái tập trung lại đảnh lễ lần cuối cùng. Sau khi con cái đảnh lễ xong thì áo quan từ từ hạ huyệt.
13- Khi chôn cất xong mọi người đồng trở về nhà và đặt bàn thờ người chết nơi trang nghiêm nhất trong nhà để hàng ngày con cháu tưởng nhớ công ơn của người đã mất.
14- Không nên mở cửa mã. Trong ba ngày đầu, con cháu đến thăm mộ và đắp sửa sang lại cho sạch sẽ.
15- Hằng ngày đến giờ ăn cả gia đình ngồi lại ăn thì nên để một đôi đũa và một bát cơm ngay tại bàn ăn này, mọi người trong nhà, nhất là người gia trưởng, đều mời người chết ăn cơm, tưởng như người đó còn sống, chứ không nên soạn mâm cơm đem cúng trên bàn thờ.
16- Tuần thất. Những tháng đầu mới mất chia ra làm ba tuần thất. Tuần thất thứ nhất là bảy ngày; tuần thất thứ hai là 21 ngày; tuần thất thứ ba là 49 ngày. Trong những ngày tuần thất ấy chúng ta làm một bữa cơm mời những người nào đã giúp trong việc ma chay đến dùng bữa cơm thân mật để tỏ lòng biết ơn những người bạn thân này.
17- Sau một năm mất chúng ta làm một bữa cơm và con cháu về đầy đủ. Người gia trưởng nhắc đến công ơn của người đã mất với gia đình, với quê hương tổ quốc.
18- Đến năm thứ hai sau khi mất cũng làm một mâm cơm mời con cháu về đủ mặt. Người gia trưởng tuyên bố mãn tang và thu hồi những miếng vải trắng nhỏ và đem đốt. Từ đây về sau không còn ai mang tang khó nữa.
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thông Lạc
Tu Viện Trưởng Tu Viện Nguyên Thủy Chân Như, Việt Nam
Khi một người thân trong gia đình mất thì những người trong gia đình cần phải lo tẩm liệm, không nên để cho người xa lạ làm công việc này. Vì để cho người xa lạ tẩm liệm người thân của mình, có điều chi không vệ sinh họ sẽ nói thế này thế khác, không tốt và rất tội nghiệp cho người thân của mình.
Cho nên trách nhiệm những người trong gia đình khi có người thân mất thì phải tẩm liệm và an táng cho chu đáo đừng để người bên ngoài làm việc này. (Ở nước ngoài, mọi việc tẩm liệm này đều do Công Ty Mai Táng thực hiện).
Trong gia đình có người thân mất thì mọi người phải bình tĩnh, sáng suốt, và cần phải làm những việc như sau:
1- Việc đầu tiên là phải dùng nước ấm và khăn sạch lau khắp cơ thể người thân cho sạch sẽ rồi thay đổi quần áo mới. Bộ quần áo cũ xếp lại, sẽ bỏ vào áo quan, sau khi tẩm liệm.
2- Mua một bao trà khô (loại dùng để tẩm liệm) rải đều dưới đáy áo quan một lớp khoảng độ 2 phân.
3- Mua một tấm vải ba thước chiều dài và một thước sáu chiều ngang, nếu cư sĩ thì mua vải màu trắng, còn tu sĩ thì vải màu vàng. Nếu không có vải khổ rộng 1 thước 60 thì hai miếng vải khổ rộng 8 tấc dài 3 thước may ghép lại.
4- Trải tấm vải ấy ra rồi 4 người thân trong gia đình, con trai trưởng nâng đầu người chết còn những người khác: một người nâng chân, một người nâng bên hông mặt và một người nâng bên hông trái, nhẹ nhàng đặt thân người chết nằm ngay ngắn giữa tấm vải.
5- Cũng bốn người thân đó ở những vị trí như trên, mỗi người nắm mép vải và đồng giở lên một lượt rồi đặt thân người chết vào áo quan. Nếu người chết là nam thì mép vải bên trái phủ trước, rồi mép vải bên mặt phủ kế tiếp rồi đến mép vải trên đầu và cuối cùng mép vải dưới chân phủ lên là xong. Nếu là người nữ thì mép vải bên mặt phủ trước bên trái phủ sau. Sau đó, nếu muốn tẩm liệm theo những vật dụng gì thì nên để dưới chân người chết. Xong đậy nắp áo quan và đóng đinh lại.
6- Mọi người trong gia đình đồng khiên áo quan đặt ngay giữa nhà. Trước áo quan đặt một bàn thờ nhỏ có ảnh người chết và một lư hương để mọi người đến cúng điếu cắm hương chia buồn, mỗi người chỉ cần thắp một cây hương tượng trưng cho lòng chia buồn mà thôi.
Trang trí trên bàn thờ một dĩa trái cây, ngoài ra không nên chưng bông hoa, hay chưng gì nữa cả. (Ở đây, ý Trưởng Lão vì đức hiếu sinh không muốn thấy hoa bị cắt khỏi cành đem chưng trên bàn thờ trong ngày đau buồn tang khó này, ngoài ra chưng hoa chỉ làm đẹp mắt mà không thiết thực hữu dụng như trái cây. Ở nước ngoài, do văn hóa đời sống khác biệt, mọi người đều quý hoa, nên chưng hoa là chính (mà quên hoa cũng có đời sống của nó, nở lòng cắt hoa lìa cành mẹ). Cá nhân hay tập thể đi phúng tang mà không có tràng hoa hay vật phúng cụ thể thì trong lòng thấy ngại, nhất là khi tang gia không chấp điếu. Khi quan tài đã hạ huyệt xong thì mọi người đi đưa đều ném một cành hoa (hay một nắm đất) xuống huyệt là hành động cuối cùng tiển biệt người chết. Còn nếu thiêu thì sau khi đưa quan tài vào lò thiêu, các lẳng hoa đều cho vào thùng rác để giữ vệ sinh môi trường.
7- Đặt áo quan và bàn thờ nhỏ trong nhà xong thì những con cháu tề tựu đảnh lễ và ngay lúc đó người gia trưởng phát vải tang cho mọi người trong gia đình. Con trai và con gái thì đội khăn trắng phủ kín đầu (Ở đây, Trưởng Lão muốn tiết kiệm chi phí. Theo phong tục của người Việt, ngoài mũ còn có áo dài và quần rộng cùng một thứ vải màu trắng đó. Nếu chỉ dùng mặc trong lễ tang rồi đốt bỏ thì quả là không tiết kiệm. Nhưng thói quen của quần chúng rất khó bỏ. Chỉ những ai không ngại bị chê trách mới thực hành được việc này); hàng con dâu, con rể thì bịt một chiếc khăn trắng trên đầu như khăn đóng, trẻ em hàng cháu nội-ngoại thì một miếng vải trắng nhỏ cài trên ngực áo. Sau khi chôn cất xong trở về nhà thì khăn trắng được trả lại nơi bàn thờ, mọi người chỉ mang một miếng vải trắng nhỏ nơi ngực.
8- Người chết không nên quàn để lâu vì để lâu làm mất vệ sinh chung. Vì vậy sáng chết chiều chôn, chiều chết sáng chôn. Nếu có điều kiện cần để lâu thì chỉ nên một ngày đêm mà thôi.
9- Không nên rước thầy chùa tụng niệm cầu siêu vì người chết đã theo nghiệp tái sinh luân hồi ngay liền khi chết còn đâu mà cầu siêu. Đó là một việc làm mù quáng, mê tín.
10- Không nên rước nhạc trống kèn làm ầm ĩ. Đám ma là lúc mất mát đau buồn, có gì vui đâu mà kèn trống. Vậy nên tránh đàn kèn trống. Và nhất là đây không phải chỗ buôn bán thây người chết để lấy tiền.
11- Đưa áo quan lên xe tang để đi chôn cất thì không nên rải giấy tiền vàng mã theo đường, làm mất vệ sinh môi trường sống. Và nhất là không nên rướt thầy chùa ngồi tụng niệm ê a trên xe tang. Đó là hình thức lạc hậu, mê tín, thiếu văn hóa, không khoa học.
12- Hạ huyệt. Khi xe tang đến nơi thì áo quan chuyển từ trên xe đến huyệt, để áo quan ngay ngắn trên huyệt, và lúc bấy giờ con cái tập trung lại đảnh lễ lần cuối cùng. Sau khi con cái đảnh lễ xong thì áo quan từ từ hạ huyệt.
13- Khi chôn cất xong mọi người đồng trở về nhà và đặt bàn thờ người chết nơi trang nghiêm nhất trong nhà để hàng ngày con cháu tưởng nhớ công ơn của người đã mất.
14- Không nên mở cửa mã. Trong ba ngày đầu, con cháu đến thăm mộ và đắp sửa sang lại cho sạch sẽ.
15- Hằng ngày đến giờ ăn cả gia đình ngồi lại ăn thì nên để một đôi đũa và một bát cơm ngay tại bàn ăn này, mọi người trong nhà, nhất là người gia trưởng, đều mời người chết ăn cơm, tưởng như người đó còn sống, chứ không nên soạn mâm cơm đem cúng trên bàn thờ.
16- Tuần thất. Những tháng đầu mới mất chia ra làm ba tuần thất. Tuần thất thứ nhất là bảy ngày; tuần thất thứ hai là 21 ngày; tuần thất thứ ba là 49 ngày. Trong những ngày tuần thất ấy chúng ta làm một bữa cơm mời những người nào đã giúp trong việc ma chay đến dùng bữa cơm thân mật để tỏ lòng biết ơn những người bạn thân này.
17- Sau một năm mất chúng ta làm một bữa cơm và con cháu về đầy đủ. Người gia trưởng nhắc đến công ơn của người đã mất với gia đình, với quê hương tổ quốc.
18- Đến năm thứ hai sau khi mất cũng làm một mâm cơm mời con cháu về đủ mặt. Người gia trưởng tuyên bố mãn tang và thu hồi những miếng vải trắng nhỏ và đem đốt. Từ đây về sau không còn ai mang tang khó nữa.
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thông Lạc
Tu Viện Trưởng Tu Viện Nguyên Thủy Chân Như, Việt Nam
Tại sao khi "mở cửa mả (mộ)" phải kéo lê con gà quanh cái mả ấy?
4
Chánh kiến với tục Mở Cửa Mả Theo quan niệm dân gian, sau khi an táng ba ngày, tang gia hiếu quyến ra mộ phần làm lễ mở cửa mả. Có nhiều người hiểu sai lạc cho rằng người chết sau khi chôn xuống huyệt thì vong hồn cũng bị chôn theo, nên sau ba ngày phải thỉnh thầy ra mộ tụng kinh cầu cho hồn lên theo về nhà, nếu không hồn sẽ bị kẹt mãi dưới mộ. Trong lễ nầy phải có con gà dắt theo để nó kêu lên khiến hồn người chết nghe tiếng gà thức dậy, đồng thời phải có cái thang cho hồn leo lên, vì bị chôn dưới huyệt phải leo lên thang mới lên được. Hiểu lễ mở cửa mả như thế là hoàn toàn mê tín dị đoan.
Thật ra quan điểm hiếu đạo của Nho gia, cho rằng sau khi an táng ba ngày con cháu phải ra mộ khóc lóc tỏ lòng tiếc thương. _ Họ dắt theo con gà kêu chiêm chiếp là tượng trưng con bị mất cha mẹ như con gà con lạc mẹ kêu khóc nhớ thương.
Cây mía lau đem theo tượng trưng cha mẹ nuôi con khổ nhọc mà ốm o gầy mòn như cây lau, cây sậy.
Cây thang năm tắc và ba ốn trúc tượng trưng người chết làm tròn bổn phận Tam cang, Ngũ thường.
Năm cây thẻ vô bùa là để trấn ếm ma quỷ đừng quấy phá mồ mả mới xây.
Rả năm thứ đậu là chỉ cho loài người sống phải nhờ vào ngũ cốc
Thật ra quan điểm hiếu đạo của Nho gia, cho rằng sau khi an táng ba ngày con cháu phải ra mộ khóc lóc tỏ lòng tiếc thương. _ Họ dắt theo con gà kêu chiêm chiếp là tượng trưng con bị mất cha mẹ như con gà con lạc mẹ kêu khóc nhớ thương.
Cây mía lau đem theo tượng trưng cha mẹ nuôi con khổ nhọc mà ốm o gầy mòn như cây lau, cây sậy.
Cây thang năm tắc và ba ốn trúc tượng trưng người chết làm tròn bổn phận Tam cang, Ngũ thường.
Năm cây thẻ vô bùa là để trấn ếm ma quỷ đừng quấy phá mồ mả mới xây.
Rả năm thứ đậu là chỉ cho loài người sống phải nhờ vào ngũ cốc
Kiến thức phong thủy. Tán gia bại sản vì sai phong thủy
Kiến thức phong thủy. bể cá có tác dụng thúc đẩy tài khí rất mạnh, nhưng cũng vì thế bể cá có thể là con dao hai lưỡi, dùng sai sẽ dẫn đến phá tài tổn đinh
Phong thủy học vốn là một bộ môn khoa học cổ đại, tuy có mang màu sắc tâm linh, nhưng căn bản nó vẫn là bộ môn khoa học với nhiều tri thức tổng hợp sâu sắc. Nói đến Phong Thủy Học tất không thể tránh nói đến việc sử dụng các đồ hóa giải, cùng các cách bài trí.
Hiện nay do sự cởi mở của xã hội, phong thủy học đã có được nhiều sự công nhận rộng rãi hơn, nhưng đi kèm với nó là các tệ nạn mê tín dị đoan, kém hiểu biết, sách in tràn lan, sai sót rất nhiều … Đặc biệt là sự hỗn loạn trong việc sử dụng vật phẩm phong thủy.
Kiến thức phong thủy.
1. Bể Cá:
Có câu “Sơn Quản Nhân Đinh, Thủy Quản Tài” cho nên có thể nói bể cá có tác dụng thúc đẩy tài khí rất mạnh, nhưng cũng vì thế bể cá có thể là con dao hai lưỡi, dùng sai sẽ dẫn đến phá tài tổn đinh.
Số lượng và màu sắc cá trong bể cũng ảnh hưởng đến chủ nhân rất nhiều. Bởi vậy khi dùng bể cá nên hỏi những người có chuyên môn sâu về phong thủy.
Tuyệt đối không dùng bể cá giả.
2. Thần Tài:
Thần Tài chia ra làm hai dòng. Một là Võ Thần Tài (Quan Đế Thánh Quân, Triệu Huyền Đàn); hai là Văn Thần Tài (Phúc Đức Chính Thần Tỷ Can, Võ Hầu Gia Cát Khổng Minh). Lập ban Thần Tài chính xác, thờ phụng nghiêm cẩn đúng pháp ắt gia nghiệp hưng phong, tài vận hanh thông.
Nhưng nếu thờ cúng sai, đặt vị trí sai thì ngược lại chắc chắn hao hụt tiền bạc, thậm chí phá sản. Hơn thế nữa, như Võ Thần Tài Quan Đế Thánh Quân, thờ cúng không đúng, không chỉ phá tài, mà tổn hại thân thể, lâm vào vòng ngục tù là rất có thể.
Nhưng nếu thờ cúng sai, đặt vị trí sai thì ngược lại chắc chắn hao hụt tiền bạc, thậm chí phá sản. Hơn thế nữa, như Võ Thần Tài Quan Đế Thánh Quân, thờ cúng không đúng, không chỉ phá tài, mà tổn hại thân thể, lâm vào vòng ngục tù là rất có thể.
Cách đây mấy năm, có một trùm buôn bán, một tay anh chị có máu mặt miền Bắc làm ăn phát đạt, sang bên Trung Quốc mua về hai pho tượng Quan Đế Thánh Quân bày hai bên cửa (tựa như lính canh cửa, một điều tối kị trong thờ cúng Quang Đế Thánh Quân, chưa đầy 100 ngày lập tức sa vòng lao lí, đối diện án tử hình.
3. Vận Tài Đồng Tử
Còn có tên Vận Tài Chi Dương, nếu dùng cho người nam chưa kết hôn thì có tác dụng. Còn như gia đình có người nữ chưa kết hôn thì kị dùng. Khi dùng đặt tốt nhất là ở phòng tắm, bởi thủy quản tài. Có thể đặt tại phòng ngủ cũng được.
Pháp khí này chỉ dùng trong một năm, sau một năm thì hết hiệu lực, khi ấy nên bỏ đi.
4. Thạch anh
Thạch anh chia ra làm hai loại là thạch anh thiên nhiên và thạch anh nhân tạo, đương nhiên thạch anh thiên nhiên có công năng mạnh hơn hẳn, có hiệu quả vượt trội. Thạch anh nên đặt ở các vị trí có bệnh sát tinh, thứ nhất là có thể tiêu tai, giảm bệnh, thứ hai có thể hóa sát thành tài khí.
5. Kim nguyên bảo
Kim nguyên bảo chủ về sinh tài, vượng tài, thường phải dùng thành cặp. Phương pháp dùng có hai cách:một là đem một cặp Kim nguyên bảo đặt tại các cửa sổ lớn của nhà hoặc đặt tại ban công, mỗi góc trái phải đặt một chiếc, mục đích là để đem tài khí bên ngoài cửa sổ vào nhà, cửa sổ càng lớn thì tài khí càng vượng.
Hai là đặt tại góc chéo đối diện với cửa lớn, vị trí đó chính là chỗ tàng phong tụ khí, cũng là tài vị, đặt một đôi Kim nguyên bảo sẽ tăng mạnh tài khí.
6. Sư tử đá
Trong quan niệm phong thủy, sư tử đá là một loài thú lành, có thể hóa giải rất nhiều loại hình sát, cũng tăng cường quan uy và dương khí cho nhà cửa, ngày trước nhà giàu nào cũng đặt trước cửa một cặp sư tử đá.
Sư tử đá có nhiều cách dùng, ví như cửa nhà hoặc cửa sổ có nhiều sự xung khắc, có thể bày một đôi Sư tử đá ở ngoài hướng về phía có sát khí, vừa hóa được sát khí lại có thể tăng uy quyền. Nếu là những người hành nghề ngôn ngữ, dùng lời nói để thuyết phục như nghề luật sư, tiếp thị… trong nhà bày một cặp sư tử đá ở chỗ thích hợp tất có sinh tài.
Sư tử đá có nhiều cách dùng, ví như cửa nhà hoặc cửa sổ có nhiều sự xung khắc, có thể bày một đôi Sư tử đá ở ngoài hướng về phía có sát khí, vừa hóa được sát khí lại có thể tăng uy quyền. Nếu là những người hành nghề ngôn ngữ, dùng lời nói để thuyết phục như nghề luật sư, tiếp thị… trong nhà bày một cặp sư tử đá ở chỗ thích hợp tất có sinh tài.
7. Sư tử đồng
Tính năng của sư tử đồng chủ yếu để hóa sát kháng tai, tất cả đều phải được đặt hướng ra cửa trước. Thường đặt ở vị trí nhà có đường xung hoặc mở cửa thấy cột đèn đều dùng để hóa giải được. Đồng thuộc kim, có thể khắc chế được các mộc sát hình, nên nếu mở cửa mà phía trước có cây to, có thể dùng sư tử đồng hóa giải.
Trong nhà có người nào mệnh Thủy bày sư tử đồng cũng tốt, bởi Kim sinh Thủy, có thể thịnh vượng.
8. Văn Xương tháp
Đây là vật phẩm phong thủy thường hay dùng, lợi cho học tập, công danh sự nghiệp. Con nhỏ nếu đặt tháp Văn Xương ở đầu giường, học hành sẽ tiến bộ. Tháp này cũng có thể đặt tại bàn học, tủ sách, có lợi cho thi cử, công danh sự nghiệp.
Tháp Văn Xương có thể làm từ nhiều nguyên liệu như đồng, đá… tùy theo mệnh của người dùng để lựa chọn tháp Văn Xương cho phù hợp.
Tháp Văn Xương có thể làm từ nhiều nguyên liệu như đồng, đá… tùy theo mệnh của người dùng để lựa chọn tháp Văn Xương cho phù hợp.
9. Tỳ hưu
Trong quan niệm phong thủy, Tỳ hưu là một loại thú lành, thân không vảy, chân không lông, thần thái uy vũ. Song Tỳ hưu chỉ phù hợp với các vấn đề và người làm về Thiên Tài (các đầu tư mạo hiểm, hoặc kinh doanh không chính thức, không thường xuyên) tất cả đều rất thần hiệu. Nên đặt đầu quay về hướng cửa, có lợi cho Thiên Tài. Chính Tài (kinh doanh thường xuyên, công việc chính liên quan đến tiền bạc, thu chi) không có tác dụng mấy, trừ khi đặt thêm bên cạnh một đôi Long Thần Tòa thì sẽ mạnh hơn.
10. Hồ lô đồng
Hồ lô đồng giải bệnh tật, điều này nhiều người biết, song hồ lô đồng còn có thể tăng thêm tình cảm vợ chồng thì ít người biết. Nếu như thấy tình cảm vợ chồng phai nhạt, có thể dùng một cái hồ lô đồng treo nơi đầu giường, tăng thêm ân ái của vợ chồng. Ngoài ra, nếu trong nhà có người bị bệnh tật, cũng có thể treo như vậy. Trẻ em, người cao tuổi cũng nên dùng.
Hồ lô đồng giải bệnh tật, điều này nhiều người biết, song hồ lô đồng còn có thể tăng thêm tình cảm vợ chồng thì ít người biết. Nếu như thấy tình cảm vợ chồng phai nhạt, có thể dùng một cái hồ lô đồng treo nơi đầu giường, tăng thêm ân ái của vợ chồng. Ngoài ra, nếu trong nhà có người bị bệnh tật, cũng có thể treo như vậy. Trẻ em, người cao tuổi cũng nên dùng.
Theo quan niệm phong thủy, hồ lô đồng hút những tà khí xấu trong nhà.
Tang Lễ Công Giáo
Một trong những nghi thức phụng vụ thường được cử hành trong nhà thờ mà bất cứ người Công Giáo nào cũng đã một lần tham dự đó là lễ cưới và tang lễ.
Riêng về tang lễ, kể từ sau Công Ðồng Vatican II cho đến nay, tang lễ của người Công Giáo đã bớt đi phần nào tính cách bi thảm của cái chết. Trước kia, người ta thường thấy các linh mục mặc phẩm phục đen, quan tài phủ khăn đen và một số cờ xí trong nhà thờ cũng mầu đen. Nhưng ngày nay, khi cử hành Thánh Lễ an táng, các linh mục mặc áo trắng, quan tài phủ khăn trắng và ít thấy sự trang hoàng thê lương trong nhà thờ.
Có lẽ một số giáo dân đã hiểu như vậy, nên họ có khuynh hướng đi ngược trở về trước thời Công Ðồng Vatican II với những hình thức thê lương bên ngoài và cho rằng "chết là hết", nên họ phải làm tất cả những gì có thể để người chết "mỉm cười nơi chín suối"!Chúng ta đã từng tham dự những tang lễ thật buồn thảm, với những bài điếu văn dài lê thê (như thể lễ phong thánh), những chia sẻ tâm tình thật thống thiết, đầy nước mắt mà sau khi dự tang lễ ấy, chúng ta chỉ cảm thấy chán chường và bải hoải.
Nếu cho rằng một tang lễ là phải bi thương, đầy nước mắt thì thử hỏi niềm hy vọng nơi Ðức Kitô phục sinh ở đâu? Ðức tin Kitô Giáo có được thể hiện qua tang lễ ấy hay không, mà đó là cơ hội tốt đẹp để nói lên đức tin cho nhiều người ngoại giáo cũng hiện diện trong tang lễ ấy?
Nói cho cùng, đó có phải là tinh thần phụng vụ đúng với đường hướng của Giáo Hội?
Trong sách Các Nghi Thức của Giáo Hội Công Giáo, phần Dẫn Nhập của Nghi Thức Tang Lễ có viết "Khi đối diện với cái chết, Giáo Hội mạnh mẽ tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã dựng nên mỗi một người để được sống đời đời, và Ðức Giêsu -- Con Thiên Chúa -- qua sự chết và sự phục sinh, Người đã phá vỡ xiềng xích tội lỗi cũng như sự chết từng ràng buộc nhân loại." Nếu chúng ta tin rằng con người được dựng nên để sống đời đời thì cái chết không chấm dứt sự hiện hữu của chúng ta. Chết không phải là hết.
Là một Kitô Hữu, qua các bí tích rửa tội, thêm sức, và thánh thể, chúng ta được tháp nhập vào mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô. Mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô là sự sống, sự chết và sự phục sinh của Ðức Kitô. Ðược tháp nhập vào mầu nhiệm ấy có lợi gì cho chúng ta? Hãy nghe Thánh Phaolô giải thích "khi chúng ta rửa tội là chúng ta đi vào ngôi mộ với Người và cùng tham dự với Người trong sự chết, để khi Ðức Kitô được nâng lên từ kẻ chết nhờ vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng có thể sống đời sống mới. Nếu trong sự hợp nhất với Ðức Kitô chúng ta đã bắt chước cái chết của Người thì chúng ta cũng sẽ được giống như Người trong sự phục sinh" (Rôma 6:4-5). Nói cách khác, thân xác chúng ta sẽ được phục sinh nếu khi còn sống chúng ta đã cố gắng noi gương Ðức Kitô trong đời sống đạo. Có lẽ đây là mục đích tối hậu của một người theo Ðức Kitô. Ðây là lý do mạnh mẽ nhất để chúng ta trở nên một Kitô Hữu.
Trở về với Thánh Lễ an táng, cũng theo cuốn Các Nghi Thức, mục đích đầu tiên của các nghi thức an táng là để "thờ phượng, chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống mà nay đã trở về với Thiên Chúa, Ngài là tác giả sự sống và niềm hy vọng của người công chính." Trong mọi biến cố của đời sống, lúc sinh hay lúc tử, người tín hữu phải nhớ đến Thiên Chúa trước hết và trên hết để chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa.
Ngoài mục đích này, qua các nghi thức an táng, Giáo Hội "gửi gấm người chết vào lòng từ bi của Thiên Chúa và xin Chúa tha thứ các lỗi lầm của họ." Không ai trong chúng ta là người sạch tội và chúng ta chỉ có thể đền tội khi chúng ta còn sống. Do đó, khi lìa trần, chúng ta phải trông nhờ vào cộng đồng tín hữu để cầu nguyện cho chúng ta.
Chết là một sự ly biệt và bất cứ sự ly biệt nào cũng đau buồn. Nhưng khi người Công Giáo nói lên sự ly biệt ấy không có nghĩa họ thú nhận một chia lìa hoàn toàn tuyệt vọng, đầy đau thương vì phải xa cách nhau mãi mãi. Ðúng hơn, những bài hát, lời cầu nguyện, nói chung là phụng vụ trong Thánh Lễ an táng không chỉ nhằm xác nhận một thực tại xa cách mà còn nói lên "mối giây liên đới giữa người sống và kẻ chết", và quan trọng hơn nữa, với niềm hy vọng nơi Ðức Kitô phục sinh, chúng ta tin tưởng rằng sau này, "tất cả chúng ta cũng sẽ được đoàn tụ trên thiên đường".
Khi kết thúc phần Dẫn Nhập Nghi Thức Tang Lễ, sách Các Nghi Thức viết: "Việc cử hành tang lễ Kitô Giáo đem lại niềm hy vọng và an ủi cho người sống." Ðây là một hướng dẫn quan trọng mà ít người để ý. Dù tang lễ có bi thương, có rình rang cách mấy thì người chết cũng không thể sống lại để nghe những bài điếu văn ca tụng dài lê thê, để thấy được những hàng nước mắt xót thương. Nhưng những gì xảy ra trong buổi lễ lại rất ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài nơi thân nhân người chết, là những người còn sống và phải đương đầu với tất cả những hậu quả của cái chết--về tinh thần cũng như vật chất. Bài điếu văn càng bi ai thì thân nhân sống sót càng đau khổ, càng tiếc nuối người quá cố. Người tham dự tang lễ có ngậm ngùi kể lể thì sau khi nắm đất cuối cùng phủ lên quan tài cũng chỉ còn lại tang quyến--là những người phải sống với đau thương âm ỉ ấy. Nhận định như thế không có nghĩa chúng ta sẽ quên đi "hiếu nghĩa" đối với người chết để nhỏ lệ xót thương hay một đôi phút ngậm ngùi, nhưng chúng ta cần thay đổi một thói quen. Thay vì quá chú ý đến các biểu lộ bên ngoài đến độ giả dối mà nhiều khi có ảnh hưởng xấu đến người còn sống, chúng ta cần để ý đến thực chất bên trong. Một hy sinh, dù nhỏ bé cũng có giá trị hơn những câu kinh ê a qua lần chiếu lệ. Và nếu hy sinh ấy được dâng lên Thiên Chúa để đền bù cho những lỗi lầm của người quá cố, thì thiết tưởng không còn gì hiếu nghĩa hơn đối với người chết.
Người Việt Nam chúng ta rất thực tế khi "an ủi người sống," đó là sự đóng góp tài chánh cho tang gia. Nhưng còn sự an ủi tinh thần thì sao?
Có một vài nhận định cần nêu lên ở đây. Thứ nhất, không ai có người thân yêu qua đời mà lại nghĩ rằng người ấy đang ở trong "vực sâu tối tăm". Dù người từ trần có lối sống bê bối đi chăng nữa, thì người thân yêu của họ vẫn hy vọng sẽ được Thiên Chúa thứ tha và cho hưởng phúc thiên đường. Hình ảnh "vực sâu u tối" không đem lại niềm an ủi cho người sống mà ngược lại, rất có thể phản Tin Mừng. Thay vì trưng ra một Thiên Chúa đầy nhân ái, đầy từ bi thì rất có thể, vì vô tình, qua các bài hát, câu kinh, chúng ta đã trưng ra hình ảnh một Thiên Chúa "quan toà", thích trừng phạt hơn thích tha thứ. Chưa kể nếu người chết đã có một nếp sống thánh thiện, tốt lành mà vẫn phải ở "vực sâu tối tăm" thì sự từ bi nhân hậu của Thiên Chúa ở đâu? Dĩ nhiên, chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được sự thật, nhưng về phần chúng ta, bổn phận là đem lại hy vọng cho người còn sống.
Thứ hai, vì thiếu suy nghĩ nên nhiều khi chúng ta máy móc lập lại những câu an ủi phổ thông, như "đó là ý Chúa," "Chúa thương gọi về." Rất có thể, những câu an ủi ấy gây ảnh hưởng tai hại hơn là xoa dịu người còn sống. Thí dụ, trước cái chết của một người cha trong gia đình nheo nhóc con thơ mà sự ra đi của ông là một mất mát vô cùng lớn lao cho vợ con ông, thì khi chúng ta cho "đó là ý Chúa," hoặc mở đầu tang lễ bằng "Khi Chúa thương gọi tôi về" thì chẳng khác nào chúng ta muốn nói với tang gia rằng Chúa không thương yêu gì đến bà và các cháu đâu! Và trong tâm hồn non nớt của các em, rất có thể các em nghĩ Chúa là người độc ác. Vì Chúa không màng đến người còn sống!
Thứ ba, vấn đề chia buồn. Cũng vì thiếu suy nghĩ nên nhiều người Công Giáo đã "vô cùng đau đớn khi được tin ông/bà ... đã được Chúa gọi về"! Mục đích tối hậu của người Công Giáo là được hiệp nhất vĩnh viễn với Thiên Chúa thì tại sao chúng ta lại "vô cùng đau đớn" khi được "Chúa gọi về"? Thay vì truyền đạo qua bất cứ biến cố nào trong đời sống, thì chúng ta lại trưng ra một hình ảnh Thiên Chúa đáng sợ hơn đáng kính mến.
Ðã đến lúc phải nhìn lại các nghi thức phụng vụ cầu nguyện cho người vừa qua đời của người Việt chúng ta. Một phụng vụ đúng nghĩa phải đem lại hy vọng cho người còn sống.
Trong các bài đọc cho người trưởng thành, về Cựu Ước có 6 bài, tỉ như: - Gióp 19:1, 23-27 (Tôi biết Ðấng Cứu Ðộ của tôi đang sống); Khôn Ngoan 3:1-9 (Ngài chấp nhận họ như của lễ toàn thiêu); Khôn Ngoan 4:7-15 (Một đời sống không tì vết là sống thọ); Isaiah 25:6a, 7-9 (Thiên Chúa sẽ tiêu diệt sự chết đến muôn đời); 2 Maccabê 12:43-45 (Thật hoan hỉ và thánh thiện khi nghĩ về người chết sẽ chỗi dậy).
Về Tân Ước có 19 bài. Sau đây là một vài tiêu biểu: Rôma 14:7-9, 10b-12 (Dù sống hay chết, chúng ta thuộc về Chúa); 1 Cor. 15:20-23, 24b-28 (Mọi người sẽ được sống trong Ðức Kitô); - 2 Cor. 4:14--5:1 (Những gì thấy được thì nhất thời; những gì không thấy được thì vĩnh viễn); 2 Cor. 5:1--6:10. (Chúng ta có căn nhà vĩnh viễn ở thiên đường).
Về Thánh Vịnh Ðáp Ca có 10 bài: TV 23, 25, 27, 42, 43, 63, 103, 116, 122, 130 và 143. Trong 10 thánh vịnh này không có thánh vịnh 125 (126) (*) là thánh vịnh thường được người Việt mở đầu tang lễ ("Khi Chúa thương gọi tôi về"), và chỉ có thánh vịnh 130 mang ý nghĩa "Từ vực thẳm con kêu lên Ngài".
Sau khi lướt qua một vài bài đọc, chúng ta thấy tinh thần phụng vụ trong tang lễ của Giáo Hội bây giờ đã thay đổi. Thay vì đưa ra cái nhìn bi quan, xa cách, khiếp sợ của Cựu Ước, Giáo Hội chú trọng nhiều đến niềm hy vọng nơi Ðức Kitô. Hầu như mọi phụng vụ trong các bí tích, như rửa tội, thêm sức, thánh thể, hòa giải đều nhằm diễn đạt mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô và dĩ nhiên, phụng vụ trong nghi thức an táng cũng không thoát khỏi ý nghĩa này. "Ðức Giêsu Kitô là trưởng tử của những người từ cõi chết... Nếu chúng ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống với Người."
Sau Công Ðồng Vatican II, Giáo Hội Hoàn Vũ đã thay đổi nhiều mà có lẽ Giáo Hội Việt Nam chưa theo kịp. Trong các tang lễ vẫn còn những bài hát, những câu kinh phản ánh tinh thần đạo đức thời xa xưa, nhắm đến uy quyền và sự trừng phạt của Thiên Chúa. Ngày nay, Giáo Hội có cái nhìn của một người trong gia đình, cùng là anh chị em trong Chúa Kitô, thông cảm hơn là kết án, hướng dẫn hơn là dạy đời.
Có lẽ đã đến lúc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải đưa ra những câu kinh, những bài hát thích hợp hơn với tinh thần phụng vụ của Giáo Hội Hoàn Vũ bây giờ./.
Pt. Giuse Trần Văn Nhật
I. Nhận Xét Tổng Quát
Có phải Giáo Hội ngày nay đã tầm thường hóa cái chết?Có lẽ một số giáo dân đã hiểu như vậy, nên họ có khuynh hướng đi ngược trở về trước thời Công Ðồng Vatican II với những hình thức thê lương bên ngoài và cho rằng "chết là hết", nên họ phải làm tất cả những gì có thể để người chết "mỉm cười nơi chín suối"!Chúng ta đã từng tham dự những tang lễ thật buồn thảm, với những bài điếu văn dài lê thê (như thể lễ phong thánh), những chia sẻ tâm tình thật thống thiết, đầy nước mắt mà sau khi dự tang lễ ấy, chúng ta chỉ cảm thấy chán chường và bải hoải.
Nếu cho rằng một tang lễ là phải bi thương, đầy nước mắt thì thử hỏi niềm hy vọng nơi Ðức Kitô phục sinh ở đâu? Ðức tin Kitô Giáo có được thể hiện qua tang lễ ấy hay không, mà đó là cơ hội tốt đẹp để nói lên đức tin cho nhiều người ngoại giáo cũng hiện diện trong tang lễ ấy?
Nói cho cùng, đó có phải là tinh thần phụng vụ đúng với đường hướng của Giáo Hội?
Trong sách Các Nghi Thức của Giáo Hội Công Giáo, phần Dẫn Nhập của Nghi Thức Tang Lễ có viết "Khi đối diện với cái chết, Giáo Hội mạnh mẽ tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã dựng nên mỗi một người để được sống đời đời, và Ðức Giêsu -- Con Thiên Chúa -- qua sự chết và sự phục sinh, Người đã phá vỡ xiềng xích tội lỗi cũng như sự chết từng ràng buộc nhân loại." Nếu chúng ta tin rằng con người được dựng nên để sống đời đời thì cái chết không chấm dứt sự hiện hữu của chúng ta. Chết không phải là hết.
Là một Kitô Hữu, qua các bí tích rửa tội, thêm sức, và thánh thể, chúng ta được tháp nhập vào mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô. Mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô là sự sống, sự chết và sự phục sinh của Ðức Kitô. Ðược tháp nhập vào mầu nhiệm ấy có lợi gì cho chúng ta? Hãy nghe Thánh Phaolô giải thích "khi chúng ta rửa tội là chúng ta đi vào ngôi mộ với Người và cùng tham dự với Người trong sự chết, để khi Ðức Kitô được nâng lên từ kẻ chết nhờ vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng có thể sống đời sống mới. Nếu trong sự hợp nhất với Ðức Kitô chúng ta đã bắt chước cái chết của Người thì chúng ta cũng sẽ được giống như Người trong sự phục sinh" (Rôma 6:4-5). Nói cách khác, thân xác chúng ta sẽ được phục sinh nếu khi còn sống chúng ta đã cố gắng noi gương Ðức Kitô trong đời sống đạo. Có lẽ đây là mục đích tối hậu của một người theo Ðức Kitô. Ðây là lý do mạnh mẽ nhất để chúng ta trở nên một Kitô Hữu.
Trở về với Thánh Lễ an táng, cũng theo cuốn Các Nghi Thức, mục đích đầu tiên của các nghi thức an táng là để "thờ phượng, chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống mà nay đã trở về với Thiên Chúa, Ngài là tác giả sự sống và niềm hy vọng của người công chính." Trong mọi biến cố của đời sống, lúc sinh hay lúc tử, người tín hữu phải nhớ đến Thiên Chúa trước hết và trên hết để chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa.
Ngoài mục đích này, qua các nghi thức an táng, Giáo Hội "gửi gấm người chết vào lòng từ bi của Thiên Chúa và xin Chúa tha thứ các lỗi lầm của họ." Không ai trong chúng ta là người sạch tội và chúng ta chỉ có thể đền tội khi chúng ta còn sống. Do đó, khi lìa trần, chúng ta phải trông nhờ vào cộng đồng tín hữu để cầu nguyện cho chúng ta.
Chết là một sự ly biệt và bất cứ sự ly biệt nào cũng đau buồn. Nhưng khi người Công Giáo nói lên sự ly biệt ấy không có nghĩa họ thú nhận một chia lìa hoàn toàn tuyệt vọng, đầy đau thương vì phải xa cách nhau mãi mãi. Ðúng hơn, những bài hát, lời cầu nguyện, nói chung là phụng vụ trong Thánh Lễ an táng không chỉ nhằm xác nhận một thực tại xa cách mà còn nói lên "mối giây liên đới giữa người sống và kẻ chết", và quan trọng hơn nữa, với niềm hy vọng nơi Ðức Kitô phục sinh, chúng ta tin tưởng rằng sau này, "tất cả chúng ta cũng sẽ được đoàn tụ trên thiên đường".
Khi kết thúc phần Dẫn Nhập Nghi Thức Tang Lễ, sách Các Nghi Thức viết: "Việc cử hành tang lễ Kitô Giáo đem lại niềm hy vọng và an ủi cho người sống." Ðây là một hướng dẫn quan trọng mà ít người để ý. Dù tang lễ có bi thương, có rình rang cách mấy thì người chết cũng không thể sống lại để nghe những bài điếu văn ca tụng dài lê thê, để thấy được những hàng nước mắt xót thương. Nhưng những gì xảy ra trong buổi lễ lại rất ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài nơi thân nhân người chết, là những người còn sống và phải đương đầu với tất cả những hậu quả của cái chết--về tinh thần cũng như vật chất. Bài điếu văn càng bi ai thì thân nhân sống sót càng đau khổ, càng tiếc nuối người quá cố. Người tham dự tang lễ có ngậm ngùi kể lể thì sau khi nắm đất cuối cùng phủ lên quan tài cũng chỉ còn lại tang quyến--là những người phải sống với đau thương âm ỉ ấy. Nhận định như thế không có nghĩa chúng ta sẽ quên đi "hiếu nghĩa" đối với người chết để nhỏ lệ xót thương hay một đôi phút ngậm ngùi, nhưng chúng ta cần thay đổi một thói quen. Thay vì quá chú ý đến các biểu lộ bên ngoài đến độ giả dối mà nhiều khi có ảnh hưởng xấu đến người còn sống, chúng ta cần để ý đến thực chất bên trong. Một hy sinh, dù nhỏ bé cũng có giá trị hơn những câu kinh ê a qua lần chiếu lệ. Và nếu hy sinh ấy được dâng lên Thiên Chúa để đền bù cho những lỗi lầm của người quá cố, thì thiết tưởng không còn gì hiếu nghĩa hơn đối với người chết.
Người Việt Nam chúng ta rất thực tế khi "an ủi người sống," đó là sự đóng góp tài chánh cho tang gia. Nhưng còn sự an ủi tinh thần thì sao?
Có một vài nhận định cần nêu lên ở đây. Thứ nhất, không ai có người thân yêu qua đời mà lại nghĩ rằng người ấy đang ở trong "vực sâu tối tăm". Dù người từ trần có lối sống bê bối đi chăng nữa, thì người thân yêu của họ vẫn hy vọng sẽ được Thiên Chúa thứ tha và cho hưởng phúc thiên đường. Hình ảnh "vực sâu u tối" không đem lại niềm an ủi cho người sống mà ngược lại, rất có thể phản Tin Mừng. Thay vì trưng ra một Thiên Chúa đầy nhân ái, đầy từ bi thì rất có thể, vì vô tình, qua các bài hát, câu kinh, chúng ta đã trưng ra hình ảnh một Thiên Chúa "quan toà", thích trừng phạt hơn thích tha thứ. Chưa kể nếu người chết đã có một nếp sống thánh thiện, tốt lành mà vẫn phải ở "vực sâu tối tăm" thì sự từ bi nhân hậu của Thiên Chúa ở đâu? Dĩ nhiên, chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được sự thật, nhưng về phần chúng ta, bổn phận là đem lại hy vọng cho người còn sống.
Thứ hai, vì thiếu suy nghĩ nên nhiều khi chúng ta máy móc lập lại những câu an ủi phổ thông, như "đó là ý Chúa," "Chúa thương gọi về." Rất có thể, những câu an ủi ấy gây ảnh hưởng tai hại hơn là xoa dịu người còn sống. Thí dụ, trước cái chết của một người cha trong gia đình nheo nhóc con thơ mà sự ra đi của ông là một mất mát vô cùng lớn lao cho vợ con ông, thì khi chúng ta cho "đó là ý Chúa," hoặc mở đầu tang lễ bằng "Khi Chúa thương gọi tôi về" thì chẳng khác nào chúng ta muốn nói với tang gia rằng Chúa không thương yêu gì đến bà và các cháu đâu! Và trong tâm hồn non nớt của các em, rất có thể các em nghĩ Chúa là người độc ác. Vì Chúa không màng đến người còn sống!
Thứ ba, vấn đề chia buồn. Cũng vì thiếu suy nghĩ nên nhiều người Công Giáo đã "vô cùng đau đớn khi được tin ông/bà ... đã được Chúa gọi về"! Mục đích tối hậu của người Công Giáo là được hiệp nhất vĩnh viễn với Thiên Chúa thì tại sao chúng ta lại "vô cùng đau đớn" khi được "Chúa gọi về"? Thay vì truyền đạo qua bất cứ biến cố nào trong đời sống, thì chúng ta lại trưng ra một hình ảnh Thiên Chúa đáng sợ hơn đáng kính mến.
Ðã đến lúc phải nhìn lại các nghi thức phụng vụ cầu nguyện cho người vừa qua đời của người Việt chúng ta. Một phụng vụ đúng nghĩa phải đem lại hy vọng cho người còn sống.
II. Tinh Thần Phụng Vụ
Ðâu là tinh thần phụng vụ đúng đắn trong các nghi thức cầu nguyện cho người chết? Ngoài những hướng dẫn tổng quát, sách Các Nghi Thức còn đưa ra các bài đọc, thánh vịnh để sử dụng trong các nghi thức cầu nguyện, và sách còn tỉ mỉ chia ra làm 3 phần: cho người lớn, cho trẻ em đã rửa tội và trẻ em chưa rửa tội. Tìm hiểu tinh thần phụng vụ không gì tốt cho bằng nhìn đến các bài đọc, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một vài chi tiết (muốn biết tất cả các bài đọc, xin xem trong Nghi Thức Phụng Vụ Cầu Nguyện Cho Người Vừa Qua Ðời).Trong các bài đọc cho người trưởng thành, về Cựu Ước có 6 bài, tỉ như: - Gióp 19:1, 23-27 (Tôi biết Ðấng Cứu Ðộ của tôi đang sống); Khôn Ngoan 3:1-9 (Ngài chấp nhận họ như của lễ toàn thiêu); Khôn Ngoan 4:7-15 (Một đời sống không tì vết là sống thọ); Isaiah 25:6a, 7-9 (Thiên Chúa sẽ tiêu diệt sự chết đến muôn đời); 2 Maccabê 12:43-45 (Thật hoan hỉ và thánh thiện khi nghĩ về người chết sẽ chỗi dậy).
Về Tân Ước có 19 bài. Sau đây là một vài tiêu biểu: Rôma 14:7-9, 10b-12 (Dù sống hay chết, chúng ta thuộc về Chúa); 1 Cor. 15:20-23, 24b-28 (Mọi người sẽ được sống trong Ðức Kitô); - 2 Cor. 4:14--5:1 (Những gì thấy được thì nhất thời; những gì không thấy được thì vĩnh viễn); 2 Cor. 5:1--6:10. (Chúng ta có căn nhà vĩnh viễn ở thiên đường).
Về Thánh Vịnh Ðáp Ca có 10 bài: TV 23, 25, 27, 42, 43, 63, 103, 116, 122, 130 và 143. Trong 10 thánh vịnh này không có thánh vịnh 125 (126) (*) là thánh vịnh thường được người Việt mở đầu tang lễ ("Khi Chúa thương gọi tôi về"), và chỉ có thánh vịnh 130 mang ý nghĩa "Từ vực thẳm con kêu lên Ngài".
Sau khi lướt qua một vài bài đọc, chúng ta thấy tinh thần phụng vụ trong tang lễ của Giáo Hội bây giờ đã thay đổi. Thay vì đưa ra cái nhìn bi quan, xa cách, khiếp sợ của Cựu Ước, Giáo Hội chú trọng nhiều đến niềm hy vọng nơi Ðức Kitô. Hầu như mọi phụng vụ trong các bí tích, như rửa tội, thêm sức, thánh thể, hòa giải đều nhằm diễn đạt mầu nhiệm vượt qua của Ðức Kitô và dĩ nhiên, phụng vụ trong nghi thức an táng cũng không thoát khỏi ý nghĩa này. "Ðức Giêsu Kitô là trưởng tử của những người từ cõi chết... Nếu chúng ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống với Người."
III. Kết Luận
Chết là lẽ tự nhiên và khó chấp nhận. Không chết vì già thì chết vì bệnh. Không chết vì bệnh thì chết vì tai nạn. Trước cái chết của một người, điều quan trọng là thông cảm sự đau buồn của thân nhân hơn là đưa ra lời nhận định. Chẳng ai biết được ý Chúa. Và lời an ủi mạnh mẽ nhất là im lặng lắng nghe tâm tình của người còn sống và những giúp đỡ thực tế, tỉ như đem cho họ một bữa ăn, một ly nước, một tiếp tay dọn dẹp nhà cửa, một chuyến xe đưa đón, v.v. Tang lễ của người Công Giáo phải khác với người ngoại giáo. Chúng ta không thể quên đi niềm hy vọng phục sinh nơi Ðức Kitô. Chúng ta không thể tuyệt vọng cho rằng "chết là hết" và thờ ơ việc cầu nguyện cho linh hồn người thân yêu đã từ trần.Sau Công Ðồng Vatican II, Giáo Hội Hoàn Vũ đã thay đổi nhiều mà có lẽ Giáo Hội Việt Nam chưa theo kịp. Trong các tang lễ vẫn còn những bài hát, những câu kinh phản ánh tinh thần đạo đức thời xa xưa, nhắm đến uy quyền và sự trừng phạt của Thiên Chúa. Ngày nay, Giáo Hội có cái nhìn của một người trong gia đình, cùng là anh chị em trong Chúa Kitô, thông cảm hơn là kết án, hướng dẫn hơn là dạy đời.
Có lẽ đã đến lúc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải đưa ra những câu kinh, những bài hát thích hợp hơn với tinh thần phụng vụ của Giáo Hội Hoàn Vũ bây giờ./.
Pt. Giuse Trần Văn Nhật
Nghi thức tang lễ theo truyền thống Phật giáo
Tang lễ thường gắn liền với những quy định, nghi thức, thờ cúng, kiêng cữ nhất định. Lễ tang được thực hiện theo những tập quán cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm của cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống. Có những hình thức mai táng khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Một nghi thức tiễn biệt người quá cố theo truyền thống Phật giáo Việt Nam qua các lễ lược như sau:
1 - Trị quan nhập liệm: Một người mất (chết), trút hơi thở cuối cùng. Sau đó ít nhất là 4 giờ, tốt hơn hết là sau 24 giờ, được tắm rửa sạch sẽ, đưa vào một cái hòm gỗ (quan tài) bằng một nghi thức như sau: Dùng một chén nước trong, một cây đèn nến (sáp) gắn vào một cái cây gác trên một góc hòm. Vị gia trì sư dùng tam mật tương ưng (tay kiết ấn, khẩu đọc thần chú, Ý quán tưởng Phật) tẩy sạch quan tài và vật dụng tẩm liệm. Ðưa thi hài vào quan tài. Thi hài thường được mặt một chiếc áo Quan Âm (mền Quang Minh). Theo cổ tục có nơi còn bỏ gạo hay vàng ngọc vào miệng thi thể.
2 - Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bấy giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một), cắm lên hai chiếc đũa và một quả trứng luộc.
3 - Khai kinh - Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.
4 - Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng: “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.
5 - Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh gọi là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường dành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.
6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.
7 - Triệu tổ: Lễ này thường được cử hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lại. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.
8 - Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy nhiên:
10 - Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.
11 - Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: - Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh, thần vị, linh ảnh thăng xa.
Triệt linh sàng.
Thán: Quy khứ lai hề quy khứ lai,
Tây phương tịnh độ bạch liên khai.
Nhất trận hương phong xuy hốt đáo,
Hương linh thừa thử bộ kim giai.
Ngưỡng bạch Di Ðà từ bi phóng quang tiếp độ.
Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.
12 - Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.
13 - Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.
Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.
14 - Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh. . . cùng chung cư trú tại địa phận này.
15 - Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.
16 - An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.
Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm..
2 - Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bấy giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một), cắm lên hai chiếc đũa và một quả trứng luộc.
3 - Khai kinh - Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.
4 - Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng: “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.
5 - Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh gọi là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường dành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.
6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.
7 - Triệu tổ: Lễ này thường được cử hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lại. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.
8 - Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nhi bất diệt, Tằng Ðạt Ma chích lý Tây quy.9 - Cáo đạo lộ: Lễ này thường nhờ một người hộ tang đứng cúng, được cử hành trước một hôm đưa đám, đặt bàn cúng trước cữa ngõ, ý nghĩa xin hộ đàng cho đám táng được yên ổn thuận lợi. Có gia đình tổ chức lễ cúng thí thực và phóng sanh nữa.
Sanh nhi bất sanh, Nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.
Nhược phi nhất nhơn, hiểu liễu nan miễn tứ đại tương man,
Cố nhơn thiên thượng, hữu luân hồi khởi phận, thử đắc vô sanh diệt.
Kim vị tang chủ: . . . Thống duy:
Hương hồn quyên tam xích chi xu, nhập cữu tuyền chi lộ.
Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.
Tuy nhiên, thuận thế gian:
Sanh viết ký, tử viết quy, bất xuất tử sanh chi nội; nãi nhược thăng vu thiên nhi giáng vu địa. Tổng quy lục đạo chi trung, u quan ảm đạm minh tiền đồ, triễn nghiệp lực na năng giải thoát.”
Thỉnh linh yết Phật qui y, thuyết linh.
10 - Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.
11 - Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: - Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh, thần vị, linh ảnh thăng xa.
Triệt linh sàng.
Thán: Quy khứ lai hề quy khứ lai,
Tây phương tịnh độ bạch liên khai.
Nhất trận hương phong xuy hốt đáo,
Hương linh thừa thử bộ kim giai.
Ngưỡng bạch Di Ðà từ bi phóng quang tiếp độ.
Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.
12 - Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.
13 - Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.
Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.
14 - Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh. . . cùng chung cư trú tại địa phận này.
15 - Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.
16 - An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.
Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm..
LỄ NHẬP KÚT (DĂNK BATALANG TAMƯ KUT) CỦA NGƯỜI CHĂM BÀ LA MÔN
TS. Phan Quốc Anh
(Sở Văn hóa, du lịch và thể thao tỉnh Bình Thuận)
Người Chăm Bàlamôn khi chết đều được làm lễ hoả táng. Trong lễ hoả táng, khi lửa đang cháy, người ta lấy hộp sọ người chết ra, đục lấy 9 mảnh xương trán, giữ lại để sau này làm lễ nhập kút. Kút là nơi chôn 9 mảnh xương trán ấy của người chết, là nghĩa địa, là nơi thờ cúng tổ tiên của dòng tộc theo họ mẹ của người Chăm Bàlamôn.
1. Nguồn gốc kút và điều kiện nhập kút
Người theo Bàlamôn giáo ở Ấn Độ không có tục giữ lại 9 miếng xương trán sau khi hoả thiêu như của người Chăm Bàlamôn hiện nay. Giáo lý Bàlamôn quy định: “Sau khi thiêu, mọi người tắm rửa và ba ngày sau, những mảnh xương chưa cháy hết và tro được thu gom rồi thả xuống sông Hằng” [1, tr. 198]. Những tư liệu của người Trung Hoa cũng cho chúng ta biết, trước đây, người Chăm không có tục giữ lại 9 miếng xương trán để nhập kút: “…Khi khiêng người chết đến gần một con sông thì họ thôi khóc; họ đặt xác lên đống củi rồi đốt, sau đó nhặt lấy tro than cho vào một cái lọ bằng đất, đem ném xuống sông, rồi mọi người về, tránh không nói một tiếng nào, có lẽ để cho linh hồn người chết không tìm được đường về” [2, tr. 27]. Như vậy, tục nhập kút và thờ kút của người Chăm Bàlamôn không phải là tín ngưỡng của đạo Bàlamôn và trước đây cũng không có. Vậy nguồn gốc tục thờ kút của người Chăm xuất phát từ đâu? có từ bao giờ? Ông Sử Văn Ngọc trong bài viết: “Đám ma người Chàm Bàlamôn Thuận Hải” cho rằng tục chặt thủ cấp khi thiêu người chết là xuất phát từ sự tích Um Mưrup, con vua Rum Muk, một thái tử đạo Bàlamôn bị đạo Hồi mê hoặc phản bội vua cha, sau bị bêu đầu làm gương” [3, tr. 183]. Theo các sử liệu khác nhau, thời Champa, việc mang xương cốt về thờ chưa có. Sau khi thiêu, phải mang tro bỏ trên các dòng sông, suối lớn nhỏ: của vua chúa thì bỏ vào biển cả, của quý tộc giàu có thì bỏ xuống sông, của dân lao động nghèo thì bỏ trên dòng suối hoặc mương nước, ao hồ. Theo truyền thuyết, từ thời vua Pô Alloah đến Pô Klongirai [4] (vào khoảng cuối thế kỷ XI - đầu thế kỷ XII) xương cốt của vua chúa được chôn ở trong tháp, còn của quý tộc thì ở lăng tẩm. Đối với dân lao động nghèo thì vẫn bỏ tro xuống nước. Cho đến khi Pô Klongirai lên ngôi, xương cốt dân nghèo mới được chôn vào kút dưới các biểu tượng đá để thờ phụng nhờ một sự kiện còn lưu giữ trong truyền thuyết Chăm về vị “Vua lác” (Pô Klongirai). Truyền thuyết ấy như sau: Theo sử Chàm thì ở thế kỷ thứ XII, trong nước có nạn đói kém, chết chóc tràn lan, người chết không được làm lễ hoả táng, xương cốt người dân vứt bỏ bừa bãi. Do mê tín dị đoan, người ta cho rằng hồn phách người dân không giải thoát được khỏi trần gian, nên theo đuổi người trần mà phá phách, gây cảnh đói kém, bệnh hoạn, chết chóc. Do đó, nhân dân lao động đã nổi dậy đòi nhà vua và bọn tăng lữ cầm quyền hồi bấy giờ cho lấy xương cốt về chôn có nơi có chỗ. Như vậy, dân mới được yên ổn làm ăn. Trước sự đòi hỏi của dân, Pô Klongirai phải đành chấp nhận cho dựng kút để chôn xương người nghèo [5].
Còn việc tại sao giữ lại các mảnh xương trán, các chức sắc Bàlamôn cho biết: trán là nơi tụ linh, là nơi tinh tuý nhất của con người, còn số lượng 9 mảnh xương trán (cho cả đàn ông lẫn đàn bà), theo chúng tôi là có sự liên quan đến quan niệm tái sinh trong nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn [6].
Lễ nhập kút (dănk batalang tam kút) chỉ dành cho người chết thuộc dòng “hỏa táng” [7]. Có kút “chính” và kút “phụ”. Kút “chính” của dòng họ chỉ dành cho những người chết “trọn vẹn - chết bình thường - chết tốt” (Mưtai sian), là những người chết khi đã 50 tuổi trở lên, đã có vợ có chồng, con cái, chết toàn thây và chết tại nhà mình, trước khi chết có người nhà đỡ tựa vào ngực và sau đó được để nằm dưới đất. Kút “phụ” là kút dành cho những người chết không trọn vẹn (Mưtai phào). Kút phụ thường để ngoài hàng rào của kút chính. Linh hồn những người nhập vào kút phụ không được tái sinh và giải thoát, không được về với thế giới tổ tiên. Người Chăm rất sợ chết không “trọn vẹn”, vì vậy không dám đi xa nhà, không dám đi bệnh viện phẫu thuật một phần thân thể và không dám chết ở bệnh viện.
Sau khi hỏa táng, gia đình đã làm đủ các nghi lễ giỗ (patrip) 3 ngày, giỗ đầy tháng, giỗ đầy năm mới đủ điều kiện làm lễ nhập kút. Theo quan niệm của người Chăm Bàlamôn, chỉ sau khi làm lễ nhập kút, người chết mới được đầu thai trở lại và mới được thần linh hóa, về với ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia. Đó vừa là cõi thiên đàng (swowr riga), vừa là xứ sở của tổ tiên (nưgar mukkay). ở thế giới ấy cũng có ranh giới để phân biệt các tộc họ (mẹ) với nhau. Mặc dù thế giới siêu hình ấy ở nơi xa xôi đến mấy nhưng vẫn “liên lạc” với dòng tộc, con cháu nên người Chăm vẫn thờ phượng. Vì vậy, hàng năm vào lễ Katê (lễ cúng cha - dương) và Chabul (lễ cúng mẹ - âm) [8], người Chăm vẫn ra thăm kút và thờ cúng.
Nghĩa địa kút của các dòng họ đều được đặt tên, những tên gọi ấy thường gắn với cảnh quan thiên nhiên nơi làm nghĩa địa kút như: kút “đá tảng”, vì kút này dựng gần khu nhiều đá tảng, kút “cây me lửa” vì ở gần cây me lửa(minh apui), kút “cây chùm bầu” vì ở gần cây chùm bầu v.v…Các tên gọi của kút này cũng được đặt cho “chiết a tâu” [9] của dòng họ.Kút rất linh thiêng và quan trọng trong đời sống tâm linh của người Chăm. Họ tin rằng kút là nơi ông bà tổ tiên hóa thần, có một quyền năng siêu hình, có thể che chở, ban phúc lộc, giải trừ nghiệp chướng cho con cháu trong dòng tộc và con cháu phải có trách nhiệm làm lễ nhập kút và thờ phụng tổ tiên thật chu đáo và đúng phép tắc lễ nghi. Vì vậy, dù khó khăn đến mấy, gia đình và tộc họ cũng phải góp của góp công vào để lo cho bằng được một khu mộ kút.
Để có một khu mộ kút cho tộc họ, người Chăm phải mời các chức sắc Bàlamôn về làm lễ dựng kút. Lễ dựng kút cũng rất phức tạp và tốn kém, phải làm đúng quy trình từ khâu chọn đất, lễ đóng cọc, lễ chọn đá làm kút, lễ tẩy uế v.v...
Qua nhiều lần trực tiếp điền dã lễ nhập kút của vùng đồng bào Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận và phỏng vấn các vị pà xế (passeh), bên cạnh những yếu tố văn hóa tâm linh phong phú và độc đáo, lễ nhập kút rất phức tạp và tốn kém. Dưới đây, chúng tôi chỉ xin trình bày những lễ thức cơ bản nhất trong quy trình làm lễ nhập kút.
2. Lễ nhập kút
Lễ nhập kút thường được tổ chức vào các tháng 3, 6, 8, 10 và 11 Chăm lịch. Sau khi trong tộc họ đã hội đủ khoảng từ 15 đến 20 hộp, có khi cả trăm hộp xương (klong kút) của người trong tộc họ đã quá cố thì trưởng họ mời các gia đình họp lại bàn với các thầy pà xế về thời gian cũng như điều kiện vật chất để làm lễ nhập kút. Trước ngày nhập kút vài hôm, bà con trong tộc họ đi dựng nhà làm lễ ngoài nghĩa địa (khu kút tộc họ), chặt cây cỏ, làm vệ sinh khu vực kút. Các gia đình có kút chuẩn bị lễ vật để đi làm lễ lấy kút về nhà để thờ. Những chiếc hộp xương trước đó được chôn giấu quanh vườn, nay lấy về để thờ trên bàn trước khi làm lễ nhập kút. Chủ lễ nhập kút phải là các thầy pà xế có chức sắc từ phó cả sư trở lên.
Nếu trong các gia đình thuộc tộc họ chuẩn bị làm lễ nhập kút, có người đàn ông nào đã đi lấy vợ, đã chết và đã được bên nhà vợ làm lễ hỏa táng và giữ lại 9 mảnh xương trán, trong dịp này gia đình cũng phải làm lễ đón 9 mảnh xương ấy về để làm lễ nhập kút vào kút của gia đình mẹ đẻ (mẫu hệ). Người Chăm có một tập tục rất đáng chú ý và trân trọng vì nó chứa đựng quan niệm về linh hồn và mang tính nhân văn sâu sắc, đó là tục “xương tiễn đưa xương”: khi hai vợ chồng đều đã làm lễ hỏa táng và hai hộp xương chưa được nhập kút. Theo quy định, xương của người chồng phải được đưa về nhập vào kút theo dòng họ mẹ đẻ. Khi bên nhà mẹ chồng tổ chức làm lễ nhập kút, bên nhà vợ tổ chức rước hộp xương chồng về phía nhà chồng. Nếu người vợ còn sống thì tiễn hộp xương chồng về nhà mẹ chồng, nếu người vợ cũng đã chết thì hai hộp xương (xương vợ xương chồng) được để ngồi bên nhau trên kiệu hoa để rước tiễn về nhà chồng (xương tiễn đưa xương). Sau đó xương người vợ chia tay vĩnh viễn với xương chồng (xương vĩnh biệt xương), trở về lại để chờ ngày làm lễ nhập kút vào dòng họ mình.
Tất cả những hộp xương đều được bày lên bàn thờ. Trên bàn thờ có bánh, rượu, thịt và một khay lửa trầm hương. Bà con hàng xóm đến viếng, uống rượu, chúc mừng. Trong những ngày mang hộp xương về nhà, không khí trong gia đình vui vẻ, con cháu trong thân tộc còn rước hộp xương đến từng nhà. Đến nhà ai, nhà đó chúc mừng, mời uống trà, uống rượu. Hộp xương được thờ trong nhà từ thứ bảy đến tối thứ hai trong tuần.
Sáng thứ hai, người nhà mời các vị chức sắc đến làm lễ tẩy uế xương. Lúc này, các hộp xương của các gia đình được tập trung lại. Người nhà cùng các chức sắc phân loại các hộp xương. Xương của những người chết “trọn vẹn” sẽ được nhập vào kút chính. Xương của những người chết không “trọn vẹn” phải đưa vào kút phụ. Những hộp xương nào chưa được phân định rõ ràng thì vẫn được nhập vào kút chính nhưng phải chôn nguyên cả hộp, đề phòng sau này phát hiện ra hộp xương đó không đủ tiêu chuẩn nhập vào kút chính, có thể lấy ra dễ dàng.
Sáng thứ ba, các hộp xương được tập trung tại nhà trưởng tộc. Hai đến ba hộp xương được xếp vào một chiếc kiệu. Những chiếc kiệu này người Chăm gọi là “thang thun” (sang thôh), có nghĩa là “nhà ma”. Tại làng Chăm Hữu Đức, xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước, có gia đình làm kiệu giống như chiếc chà kung trong lễ hỏa thiêu, cũng có hình bầu tượng trưng cho bụng người đàn bà mang thai sắp sinh nở, được trang trí rất đẹp. Những chiếc kiệu được xếp thành hàng và được khiêng ra nghĩa địa.
Những chiếc hộp xương được đặt lên trên những chiếc cổ bồng cao, bên dưới có lót một lớp gạo. Những chiếc cổ bồng này được xếp thành hàng theo chiều đông tây và phân chia theo giới tính (nam theo nam, nữ theo nữ) và được phủ lên những bộ quần áo, trang phục cổ truyền Chăm. Trước mỗi cổ bồng có các mâm lễ, lễ vật gồm có một mâm bánh xếp cao, một con dê, ba con gà luộc, cơm, canh v.v… Người nhà lấy trang phục ra mặc cho những tảng đá kút (sau khi các tảng đá kút đã được các chức sắc làm lễ tẩy uế).
Các vị chức sắc Bàlamôn ngồi trước dãy cổ bồng, mặt xoay về hướng nam. Thân nhân của các kút ngồi đối diện. Thầy cả sư làm lễ tẩy uế và tắm cho xương. Thầy mở từng hộp xương, đếm xem có đủ 9 miếng xương hay không? Nếu thiếu, phải lấy mảnh nào đó đập làm đôi sao cho đủ. Sau đó ông cho vào chậu rửa xương bằng nước có pha cát lồi (ia mu) [10], lau khô và cho vào hộp, để lại lên cổ bồng và bắt đầu lễ tế. Những người thân trong gia đình của những chiếc hộp xương nằm sấp xuống lạy trước những chiếc cổ bồng, mỗi người ba lần. Những chiếc hộp xương được chia làm bốn mâm theo giới tính và theo kút chính, phụ và mang vào nhà lễ.
Sau khi làm lễ tẩy trần bản thân, ông thầy ngồi xuống trước các bia kút đọc thần chú. Ông tháo các hộp xương, bỏ các miếng xương vào trong bốn chiếc bị làm bằng vỏ cây tràm. Sau đó, ông làm phép để đào 5 lỗ trước 5 bia kút. Đa số các bia kút của người Chăm là 5 chiếc, là 5 cột đá được bố trí như sau: ở giữa là kút mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar, 2 kút phía đông (dương) là kút dành cho đàn ông, 2 kút phía tây (âm) là kút dành cho đàn bà (ngoài ra còn có kút 7, kút 9 bia nhưng đều được bố trí theo nguyên tắc trên.
Ông thầy rải 3 chiếc lá mít thành hình tam giác tạo hình yoni trên các miệng lỗ (theo chúng tôi, nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn, trong đó có lễ nhập kút, luôn thể hiện các biểu tượng phồn thực với mục đích là “tái sinh” cho những linh hồn về thế giới bên kia, đây là dấu ấn của Shiva giáo). Ông thầy khấn thần linh cho phép những linh hồn của những người đã chết này được hóa thần, dùng một chiếc lưỡi liềm cuốn vải đỏ làm phép trấn bùa trừ tà trên miệng lỗ rồi bỏ những mảnh xương vào lỗ. Thứ tự như sau:
Tại lỗ trước bia kút lớn ở giữa (kút Pô Inư Nưgar), ông chỉ bỏ xuống 9 hòn sỏi và 9 miếng trầu têm rồi vẽ bùa trấn. Sau đó ông bỏ xương của đàn ông chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn ông (phía đông kút giữa), xương của đàn bà chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn bà (phía tây). Xương của những người “chết xấu - chết không trọn vẹn” phải đem đi bỏ xuống lỗ ở kút phụ (ở ngoài hàng rào nghĩa địa kút).
Sau khi bỏ hết các mảnh xương vào lỗ kút, ông thầy trấn bùa rồi lấp các lỗ kút lại, san phẳng.Sau khi đã nhập xương vào kút, ông kathành (kadhar) kéo đàn kanhi và hát tang ca để ông cả sư làm các lễ thức như “khai mắt thần”(Băch pakăk mư ta yang), lễ thức “tắm ngẫu tượng” và “tế các bia kút”. Ngoài ông cả sư pô xà và ông ka thành, còn có bà múa bóng của khu vực tôn giáo (Muk pajau). Sau đó, dàn nhạc nổi lên, bà bóng lên đồng, bà sẽ được thần linh cho biết là lễ nhập kút đã hoàn thành tốt hay chưa? Gia đình và các thầy cả sư đã lựa chọn chính xác các tiêu chuẩn được nhập vào kút chính hay chưa? Nếu có trường hợp nhầm lẫn vô tình hay hữu ý mà nhập phải những linh hồn chết không “trọn vẹn” sẽ làm thế giới tổ tiên bị xáo trộn, không yên ổn và vì vậy, những người đang sống cũng sẽ lao đao. Gặp những trường hợp như vậy phải đào kút lên loại bỏ và phải làm lễ nhập kút lại. Tuy nhiên trường hợp này hầu như không xảy ra vì quy trình làm nghi lễ tang ma rất chặt chẽ và mọi người cũng rất sợ thần linh, muốn cho thế giới tổ tiên luôn trong sạch nên làm rất cẩn thận và chính xác. Chốn linh thiêng không thể làm bừa, làm ẩu.
Nghi thức mời các thần dự lễ đã xong. Đến phần múa của bà bóng. Ban nhạc gồm trống paranưng, đàn kanhi, kèn saranai. Bà bóng nhảy múa say sưa. Đến điệu múa hầu Chaykathun, trong tiếng trống paranưng dồn dập, tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng kanhi ai oán và tiếng mọi người hú hét “a hay! à hay!”, bà bóng múa dồn dập và bắt đầu lên đồng rồi báo cho mọi người biết những linh hồn đã được hóa về với tổ tiên trên thiên đàng hay chưa? Sau đó, bà bóng múa tiếp điệu múa tiễn biệt các linh hồn (Khú tănk pặt) về với tổ tiên, những người thân thứ tự nằm sấp, hướng về bàn tổ mà lạy (trước khi lạy, mỗi người đều buộc một chiếc khăn ngang bụng). Tiếp đến là màn “múa mừng”(Mưja thuonh) cho những linh hồn mới đã gặp những linh hồn cũ ở thế giới tổ tiên. Sau khi bà bóng múa, thầy cả sư, các vị chức sắc rồi tất cả mọi người đứng lên múa mừng. Theo chúng tôi, trong nghi lễ tang ma của người Chăm, chỉ đến khi làm lễ nhập kút kết thúc, linh hồn người chết mới nhập xong về với tổ tiên nên mới có màn múa mừng, cũng có nghĩa là nghi lễ tang ma đến đây mới kết thúc.
Những đêm nhập kút, mọi người thường đánh trống, kéo đàn, hát và nhảy múa vui vẻ thâu đêm. Những người phụ nữ dọn cơm cho tất cả mọi người ăn mừng cho linh hồn người chết đã được giải thoát, nhập về thế giới tổ tiên.Sáng hôm sau, ông thầy cả sư pô xà lại làm lễ tẩy uế các bia kút và làm lễ tế các linh hồn tổ tiên lần cuối cùng. Con cháu trong gia tộc nằm lạy tổ tiên, cầu phúc cho mọi sự tốt lành.Sau lễ nhập kút, cả tộc họ phải kiêng cữ trong một năm không được làm đám cưới, đám tang vì họ cho rằng, các linh hồn người chết còn đang hóa thần trong kút. Nếu trong tộc họ có người chết, phải làm lễ “chôn gửi” [11], không được làm nghi lễ tang ma (vì chôn gửi chưa được gọi là lễ tang).Đúng một năm sau, tộc họ lại mời thầy pà xế đến làm lễ mở cửa kút (pơ bơng kút). Linh hồn người chết coi như đã về với tổ tiên, coi như đã hóa thần và về xứ sở ông bà (nao ngar muk kay). Theo quan niệm của người Chăm thì thế giới bên kia có ba cõi [12] những người chết “trọn vẹn” sẽ được giải thoát lên thiên đàng, còn những người “chết xấu” sẽ phải đến những vùng xấu hơn, thậm chí phải xuống địa ngục để chịu những cực hình tra tấn, lại có những linh hồn được “tái sinh”, “hóa kiếp” nhập vào một đứa bé nào đó hoặc một con súc vật nào đó ở cõi trần, tuỳ theo dòng dõi tộc họ và công, tội khi còn sống ở nơi trần thế.
Hàng năm, vào ngày giỗ, cả tộc họ cùng nhau tổ chức ra thăm nghĩa địa và cúng kút.
3. Một vài nhận xét về lễ nhập kút
Xét về mặt tín ngưỡng, tục thờ kút đá của người Chăm có thể là tàn tích của tín ngưỡng thờ đá của hầu hết các tộc người trong tín ngưỡng nguyên thuỷ. B.E. Taylor cho rằng, tục thờ hồn đá có ở hầu hết các tộc người trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ: “Những nhóm đá xếp chồng dọc lên một cách đặc sắc ở Ấn Độ mô tả hay mang trong bản thân chúng những vị thần, ở nam Ấn Độ có thể thấy khắp trên những cánh đồng từng nhóm bốn hay năm hòn đá xếp thành hàng và bôi đỏ” [13, tr.739]. Một số nhà khoc học cho rằng, tục thờ đá xuất phát từ các dân tộc Đông Nam Á. Vì vậy, cũng có thể tín ngưỡng thờ kút của người Chăm không phải có nguồn gốc Ấn Độ mà từ truyền thống bản địa.
Hiện nay, các gò đất cạnh bờ ruộng của người Chăm là những nghĩa địa với các biểu tượng kút bằng những cột đá. Hiện tượng này có thể là sự tương đồng văn hóa của nhiều cư dân Đông Nam Á. Theo PGS.TS Trần Lâm Biền, mộ của người Mường được viền đá xung quanh, những mộ của người Việt từ thời Lý, Trần đã được cắm những tảng đá lớn ở xung quanh. Cũng theo ý kiến của PGS.TS Trần Lâm Biền, những cột đá trên mộ, theo quan niệm của người Việt - Mường là “trục thông linh” nối cõi chết với cõi sống. Người Việt thường cho rằng, đêm đêm, những linh hồn người chết sẽ theo cột đá lên, ngồi ở trên đỉnh cột đá nhìn về làng xóm, tìm về người thân, nhớ về cõi sống. Người Chăm Bàlamôn thì cho rằng, kút là nơi cư ngụ của tổ tiên (On Proh) và được phụng thờ, là nơi làm các nghi lễ khấn vái của gia đình và tộc họ trong các dịp lễ hội Ka tê hàng năm. Cũng có thể, những cột đá mà người Chăm gọi là kút ấy cũng được người Chăm coi như là “trục thông linh” nối cõi sống với cõi chết, là con đường để tổ tiên về phù hộ cho người thân ở cõi sống trong những lần tế tự, cầu cúng.
Qua những lý giải trên, với truyền thống văn hóa bản địa, việc thờ cúng tổ tiên là một nhu cầu tâm linh của cư dân Đông Nam Á. Có lẽ vì vậy, tục thờ kút như một biểu tượng cho những người đã khuất là tín ngưỡng thờ tổ tiên xa xưa của người Chăm, được khôi phục lại nhằm mục đích cố kết cộng đồng và đáp ứng như cầu thờ tổ tiên vào những thế kỷ sau này. Vì vậy, theo chúng tôi, tục thờ kút là một hiện tượng phái sinh của tôn giáo Ấn Độ. sau một thời gian dài, người Chăm Bàlamôn bị khép kín về mặt tôn giáo, không có mối liên hệ với các dân tộc theo Bàlamôn giáo trên thế giới, tín ngưỡng bản địa có dịp trỗi dậy, sức mạnh của yếu tố nội sinh đã làm biến đổi rất nhiều giáo lý, giáo luật của Bàlamôn giáo. Sự biến đổi ấy không chỉ thể hiện ở lễ tang mà còn ở nhiều phong tục, lễ nghi khác.
Lễ nhập kút luôn được người Chăm và hệ thống chức sắc tôn giáo coi trọng, diễn ra theo những quy định chặt chẽ, về hình thức cũng như nội dung được bảo lưu bằng văn bản cổ Chăm và được các vị chức sắc Bàlamôn truyền lại từ đời này qua đời khác. Quan niệm cõi sống và cõi chết của người Chăm Bàlamôn là quan niệm “luân hồi giải thoát” - quan niệm của thời kỳ Vê đa, không tuân thủ luật “nhân - quả” (trừ những người thuộc “dòng chôn”), không chịu sự chi phối của “nghiệp”, “báo” như các giáo phái hậu Vê đa. Tuy nhiên, việc giữ lại chín miếng xương trán sau khi hỏa táng để linh hồn người chết nhập kút về với tổ tiên ít nhiều phá vỡ tư tưởng “luân hồi giải thoát”.
Tín ngưỡng thờ kút đã như một thứ giáo lý của một kiểu tôn giáo dân tộc của người Chăm. Nhập kút là một phong tục mang nhiều giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị xã hội, là một trong những rường cột cơ bản để cố kết cộng đồng người Chăm Bàlamôn theo một xã hội mẫu hệ truyền thống. Những nguyên tắc của tục nhập kút cũng là cơ sở khá vững chắc trong việc bảo lưu văn hóa truyền thống Chăm, đó là quan niệm vũ trụ, nhân sinh, cõi sống, cõi chết, tàn tích của giáo lý Bàlamôn kết hợp với tín ngưỡng thờ tổ tiên, ràng buộc mối quan hệ bền chặt từ vợ chồng, gia đình, tộc họ cho đến cộng đồng tôn giáo. Lễ nhập kút, bên cạnh sự rườm rà, phức tạp là môi trường bảo lưu các giá trị văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, múa, tạo hình độc đáo của người Chăm.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị xã hội, tập tục nhập kút cũng có những vấn đề cần phải suy nghĩ, bàn đàm. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tục nhập kút vô hình chung đã làm cho cộng đồng người Chăm tự khép kín mình. Bị ràng buộc bởi những quy định của tục nhập kút mà cho đến nay, người Chăm không dám kết hôn với người khác dân tộc, khác tôn giáo, thanh niên Chăm không được tự do yêu đương. Do sợ không được nhập vào kút chính, không được hóa thần về với tổ tiên nên những quy định về tục nhập kút được người Chăm tuân thủ tuyệt đối: Phải làm đầy đủ các nghi thức chuyển tiếp, phải có vợ, có chồng, con, phải tuân thủ luật tục hôn nhân đồng tôn giáo, đồng dân tộc, chết phải đủ 50 tuổi trở lên, chết toàn thây, phải chết tại nhà mình v.v... Những quy định khắt khe ấy đã hạn chế sự giao lưu xã hội của người Chăm, nhiều người không dám đi xa, thậm chí, ốm đau bệnh tật không dám đến bệnh viện vì sợ bị chết ở bệnh viện hoặc không dám phẫu thuật sợ bị cắt đi một phần thân thể v.v…Trong khi đó, tục nhập kút lại không quy định theo quan niệm “luân hồi nghiệp báo” nên việc sống ở cõi trần tốt hay xấu không quan trọng, miễn là “chết trọn vẹn” là người chết được làm lễ nhập kút, linh hồn được giải thoát lên thiên đàng, hóa thần về với thế giới tổ tiên.
Nguồn: Tạp chí Văn hóa dân gian số 04 năm 2004
Chú thích và tài liệu tham khảo
1. Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), (1999), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, bản dịch của Dương Thu ái và Phùng Thị Huệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Maspero. G. L. (1928), Vương quốc Chăm pa (Le royaume du Champa), Pari, bản dịch của Đào Từ Khải, tài liệu đánh máy.
3. Sử Văn Ngọc (1978), “Đám ma người Chăm Bàlamôn ở Thuận Hải”, Trong: “Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam”, tập 2, quyển 2, Ban Dân tộc - Viện KHXH tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Vị vua Chăm thế kỷ XII, được coi là vị vua có công lớn trong việc dẫn thuỷ nhập điền ở vùng Panduranga.
5. Theo ông Bố Xuân Hổ, người Chăm ở huyện Bắc Bình, tình Bình Thuận
6. Phan Quốc Anh: Những quan niệm trong tang ma của người Chăm Bàlamôn - Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 (84), 2002
7. Ngoài những dòng họ được làm lễ hoả táng, người Chăm Bàlamôn còn có những dòng họ chỉ được chôn (xin xem thêm tài liệu tham khảo 6 và 12)
8. Lễ hội Katê vào tháng 7 (Chăm lịch), lễ Chabul vào tháng 9 (Chăm lịch), người Chăm cũng có quan niệm “nam thất, nữ cửu”
9. “Chiết a tâu” là một chiếc giỏ hình vuông được đan bằng tre, dùng để đựng y trang trong việc thờ cúng của hay tộc họ. Đây là một vật tổ thiêng để thờ cúng tổ tiên của người Chăm, muốn hạ “chiết a tâu” phải làm lễ cúng và có những điều kiện nhất định.
10. Một loại đất sét pha cát, có tác dụng tẩy rửa như xà phòng.
11. Chôn gửi hay chôn tạm là do gia đình chưa có điều kiện làm lễ hoả táng, sau khi chôn được một năm, gia đình đào hài cốt lên làm lễ hoả táng, gọi là lễ hoả táng khô.
12. Phan Quốc Anh: Lễ hỏa táng của người Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận - Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 3 (54), 2002.
13. Tylor. E.B. (2001), Văn hóa nguyên thủy, bản dịch của Huyền Giang, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản, Hà Nội.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
.jpg)




