Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" để xem tin tức hàng ngày nhé!

Translate

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

VU LAN BUỒN

 VU LAN BUỒN



Thơ: Lan Lê


Thu buồn giăng kín trời Ngâu

Nhân gian ngột ngạt nỗi sầu Cô-vi

Năm qua biến chủng trị vì

Cách li tuân thủ, không đi ra đường


Vu Lan dâng nén tâm hương

CẦU cho nhân loại bốn phương an bình

CHÚC lành tới mọi sinh linh

Vượt qua đại nạn nghĩa tình đằm sâu

Người tự xưng 'tao là tiến sĩ' chửi bới cán bộ trực chốt đúng là... tiến sĩ

Người tự xưng 'tao là tiến sĩ' chửi bới cán bộ trực chốt đúng là... tiến sĩ



- Qua xác minh, lực lượng chức năng xác định người đàn ông tự xưng tiến sĩ khi chửi bới, xúc phạm cán bộ trực chốt phòng chống COVID-19 có bằng tiến sĩ, đang làm giám đốc marketing một công ty, nhưng không phải là 'người của đài VTV'.


Người đàn ông tự xưng là tiến sĩ chửi bới, chống đối cán bộ trực chốt COVID-19 - Ảnh cắt từ video

Chiều 16-8, trao đổi với Tuổi Trẻ Online, lãnh đạo Công an huyện Gia Lâm (Hà Nội) cho biết đơn vị đã giao Công an xã Đặng Xá (Gia Lâm) tham mưu cho UBND xã để xử lý các vi phạm về quy định phòng chống dịch đối với ông Nguyễn Đ. (38 tuổi, hộ khẩu thường trú tại Đống Đa, Hà Nội; hiện sống tại khu đô thị Đặng Xá) - người tự xưng là tiến sĩ, chửi bới tại chốt kiểm soát dịch.

"Theo xác minh ban đầu, ông Nguyễn Đ. đúng là tiến sĩ, hiện đang làm giám đốc marketing của một công ty.

Tại cơ quan công an, ông Đ. đã thành khẩn nhận lỗi, tỏ ra rất ân hận về hành vi sai trái. Hành vi của ông này sẽ bị xử lý hành chính về vi phạm quy định phòng chống dịch, chưa đến mức xem xét xử lý hình sự", vị lãnh đạo công an huyện thông tin.

Cũng theo Công an huyện Gia Lâm, việc ông Đ. tự nhận mình là người của VTV (Đài truyền hình Việt Nam) là không đúng.

Như Tuổi Trẻ Online đưa tin, khoảng 23h khuya 15-8, ông Nguyễn Đ. đi xe máy về nơi ở tại khu đô thị Đặng Xá.

Khi đi đến chốt kiểm dịch số 12 (khu đô thị Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội), ông có biểu hiện say rượu, không đeo khẩu trang nên bị lực lượng trực chốt yêu cầu dừng xe kiểm tra giấy tờ.

Thấy cán bộ trực chốt nhắc nhở đeo khẩu trang, ông Đ. liền quát lớn: "Tao là VTV, là tiến sĩ đấy, đừng có chỉ vào mặt tao. Bây giờ như nào? Cần giấy tờ gì? Nói!".

Tiếp đó, ông Đ. lấy trong balô ra một tập giấy tờ, vứt xuống đất rồi yêu cầu cán bộ trực chốt kiểm tra và tiếp tục chửi bới. Lực lượng chức năng sau đó yêu cầu người này vào trong chốt làm việc. Qua kiểm tra ông này không có giấy tờ chứng minh là cư dân ở khu đô thị này.

Ông Đ. đi ra ngoài, ngồi lên xe máy rồi phóng đi cùng lời thách thức lực lượng chức năng "bắt đi, cứ chờ đấy". Lực lượng công an đã đuổi theo và đưa ông này về trụ sở để làm việc.
Theo TTO

Xem Clip:

 

Nguồn báo Thanh niên

Chấm dứt văn mẫu - được không?


 Không dễ chấm dứt văn mẫu vì đây là mảnh đất màu mỡ, đem lại lợi ích, lợi nhuận cao cho những người biên soạn, cho các nhà xuất bản các loại sách đề thi, tài liệu tham khảo, cẩm nang ôn luyện và cả giáo án mẫu.

Ngày 13-8, Bộ trưởng Giáo dục-Đào tạo Nguyễn Kim Sơn viết dòng trạng thái trên Fanpage của mình: "Vì có quá nhiều việc cần phải làm để cho giáo dục tốt hơn, nên những việc gì có thể thực hiện được ngay, thì đề nghị các thầy, các cô chúng ta cùng điều chỉnh luôn. Một trong những việc đó là chấm dứt học theo văn mẫu, bài mẫu, dẫn tới triệt tiêu sự sáng tạo của thầy và trò".

Điều này cũng đã được Bộ trưởng nhấn mạnh tại Hội nghị Tổng kết năm học 2020-2021 và triển khai nhiệm vụ năm học 2021-2022 đối với giáo dục Trung học.[1]

Phải chăng đây là tín hiệu bắt đầu cho một cuộc cải cách giáo dục có chủ điểm, có trọng tâm, có nội dung cụ thể nhằm từng bước đổi mới giáo dục nước nhà vốn đang nhiều bất cập?

Nếu như thế thì quả là đáng mừng, vì xã hội mong chờ điều này lâu quá rồi. Có lẽ vì thế cho nên khi Bộ trưởng chia sẻ quan điểm trên trang cá nhân hay sau khi báo chí đăng tải thông tin, dư luận đều rất hoan nghênh và ủng hộ.

Nhưng điều quan trọng là ở chỗ, bắt đầu từ đâu, giải pháp và lộ trình chấm dứt “văn mẫu” như thế nào? Bởi vấn đề tưởng đơn giản nhưng lại rất phức tạp, liên quan đến tư duy, cách tổ chức quản lý dạy học và đặc biệt là con người.

“Văn mẫu” đã thành “bệnh” của xã hội

Thế hệ chúng tôi, thời còn cắp sách đi học, hầu như không có “văn mẫu”. Mỗi khi trả bài tập làm văn, bạn nào viết hay, viết tốt, giàu cảm xúc đều được thầy cô biểu dương trước lớp và đọc cho mọi người cùng thưởng thức. Sau này, khi tốt nghiệp đại học ra trường, theo đuổi nghề dạy học, khái niệm “văn mẫu” cũng không có chỗ trong tư duy và hành động của chúng tôi và các lớp học sinh hồi ấy.

Nhưng rồi, đùng một cái, năm 1988, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp lúc đó (gọi tắt là Bộ ĐH) ban hành bộ đề thi đại học kèm lời giải. GS Nguyễn Cảnh Toàn, Thứ trưởng Bộ Giáo dục lúc bấy giờ cảnh báo, đây là một giải pháp sai lầm lớn nhất mà Bộ ĐH đã triển khai. “Tôi là một trong những người đã cảnh báo: ra bộ đề thi thì sẽ dẫn tới học tủ. Và học tủ thì mất tính sáng tạo, học tủ thì không còn quá trình nỗ lực nữa rồi, nghĩa là anh chỉ nhớ lấy một cái tủ rồi làm theo cái hình mẫu ấy. Thế nhưng Bộ ĐH không nghe”. Mặc dù bị dư luận phản ứng mạnh mẽ, nhưng những người khởi xướng “bộ đề thi” không chịu tiếp thu, thậm chí họ còn bao biện: “cứ cho là học sinh sẽ học vẹt, nhưng với những em thuộc được kiến thức của cả bộ đề thì xứng đáng đỗ ĐH!”.[2]

Và như một hiệu ứng đô mi nô từ “bộ đề thi” năm 1988, các lò luyện thi mọc lên như cỏ dại vây quanh các trường cấp 3, trường đại học. Các khối lớp khác trong bậc học phổ thông cũng lần lượt ăn theo. Bây giờ thì ngay lớp 1 đầu cấp, cũng đầy rẫy những tài liệu mẫu, văn mẫu mà cuốn nào nội dung cũng na ná như nhau.
Hơn ba mươi năm qua, chịu tác động của “bộ đề thi mẫu”, giáo dục đã cho ra đời bao thế hệ “văn mẫu”. Ảnh hưởng của nó sâu rộng đến mức, không lĩnh vực nào là không có bóng dáng của “văn mẫu”. Mẫu từng câu, từng văn bản. Mẫu cả trong những lĩnh vực lẽ ra phải rất khoa học, sáng tạo và nghiêm túc như luận án tốt nghiệp, sáng kiến kinh nghiệm, báo cáo tổng kết, đánh giá,… Mẫu cả trong những bài phát biểu của lãnh đạo tại các cuộc hội nghị, hội thảo,…

Sự sáo rỗng, cứng nhắc, vô hồn vô cảm (nhưng lại được dán mác “chuẩn) ngự trị xã hội mà thực chất đấy là dối trá, lừa mị nhau – một căn bệnh trầm kha có nguyên nhân sâu xa từ “văn mẫu”.

Chấm dứt “văn mẫu” không phải dễ

Không dễ vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức, tư duy của các thế hệ mấy chục năm qua trong đó có một bộ phận không nhỏ đội ngũ giáo viên và nhà quản lý giáo dục. Sức ỳ, ỷ lại “mẫu” ở họ đang rất lớn, chẳng khác gì những hòn đá tảng cản trở sự thay đổi và phát triển.

Không dễ vì đây là mảnh đất màu mỡ, đem lại lợi ích, lợi nhuận cao cho những người biên soạn, cho các nhà xuất bản các loại sách đề thi, tài liệu tham khảo, cẩm nang ôn luyện và cả giáo án mẫu. Vì lợi ích riêng tư, lợi ích nhóm, chắc chắn họ sẽ bày ra nhiều mưu lắm kế để đối phó. Ví như cấm văn mẫu thì sẽ có “dàn bài chi tiết”.

Không dễ vì cách dạy, cách ra đề, cách chấm thi bị đóng khung theo khuôn mẫu; học sinh buộc phải ôn luyện, làm bài gò theo mẫu đề thi được công bố trước mỗi kỳ thi vài ba tháng. Sự sáng tạo của cá nhân gần như bị triệt tiêu. Đề thi tốt nghiệp THPT môn văn năm 2021 là một thí dụ nóng hổi mà dư luận đã mổ xẻ rất kỹ trong thời gian vừa qua.

Không dễ vì thời đại 4.0, “văn mẫu” được hỗ trợ mạnh mẽ bởi công nghệ số, càng lan tỏa nhanh, rộng khắp hang cùng ngõ hẻm của đất nước. Hàng loạt website, trang mạng xã hội tự do, thoải mái quảng bá, trao đổi, mua bán văn mẫu, giáo án mẫu, sáng kiến kinh nghiệm,... Chỉ một cú lích chuột là có ngay thứ mình cần, kể cả bản thu hoạch, kiểm điểm sau mỗi đợt học tập chính trị, nghị quyết hay bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn.

Còn nhớ, hơn 10 năm trước, giáo dục rộ lên phong trào “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Một phong trào với ý tưởng hay, mục đích tốt nhưng giải pháp thực hiện bất cập nên tiêu cực trong thi cử vẫn cứ diễn ra mà điển hình là mùa thi THPT Quốc gia năm 2018, còn bệnh thành tích thì dường như không hề thuyên giảm.

Hy vọng đó sẽ là bài học để cuộc chiến chống “văn mẫu” không rơi vào tình trạng hò voi bắn súng sậy.

Chúc Bộ trưởng, với tâm huyết, trí tuệ của mình cùng với sự nỗ lực của toàn ngành và sự đồng thuận của cả xã hội sẽ sớm đạt được điều mong muốn, tạo bước đột phá để giáo dục bứt lên làm tròn sứ mệnh cao cả, cho ra lò những lớp người trẻ tài năng, bản lĩnh, đầy khát vọng sáng tạo và khai phóng vì sự phồn vinh của đất nước.

15-8-2021
Nguyễn Duy Xuân
Nguồn tham khảo:

[1] https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/bo-truong-nguyen-kim-son-can-cham-dut-hoc-theo-van-mau-765422.html
[2] https://tuoitre.vn/tu-bo-de-thi-ngot-ngat-515757.htm

TÍNH LUẬN CHIẾN TRONG BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH

 Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ và tinh tuý nhất những đặc điểm trên trong phong cách văn chính luận của Người, đặc biệt là tính luận chiến mạnh mẽ, sắc sảo trong việc tranh biện với kẻ thù , cụ thể ở đây là thực dân Pháp .

Về phong cách văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh , sách Ngữ văn 12 tập I - NXB Giáo dục Việt Nam năm 2013 trang 28 có viết :" Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp". Có thể khẳng định rằng : Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ  và tinh tuý nhất những đặc điểm trên trong phong cách văn chính luận của Người, đặc biệt là tính luận chiến mạnh mẽ, sắc sảo trong việc tranh biện với kẻ thù , cụ thể ở đây là thực dân Pháp . Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn bước đầu gơi ra mục đích ,ý nghĩa của tính luận chiến trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí  Minh . Từ đó chỉ ra vẻ đẹp trong phong cách , tầm tư tưởng cao đẹp và cả tầm văn hoá uyên bác của Người trong hoàn cảnh đầy thử thách " dầu sôi lửa bỏng" của đất nước Việt Nam lúc bấy giờ .

    Trước hết, xin nói qua hoàn cảnh lịch  sử Người viết bản Tuyên ngôn độc lập nước ta lúc bấy giờ . Vào thời điểm đó, nước ta đã giành được tự do , độc lập nhưng vận mệnh nền độc lập, tự do của đất nước ta như "ngàn cân treo sợi tóc" .Bằng chứng là núp dưới danh nghĩa "giải giáp quân đội Nhật" của phe đồng minh , cùng một lúc bốn kẻ thù nhảy vào nước ta với âm mưu thôn tính Việt Nam : vào phía Bắc là quân đội Mỹ và Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch ,tiến vào phía nam là quân đội Anh , núp sau quân  viễn chinh Pháp .Hơn thế , tổng thống Pháp Đờ Gôn trắng trợn tuyên bố trước thế giới :" Việt Nam nguyên là đất bảo hộ của người Pháp bị Nhật chiếm đóng , nay Nhật đầu hàng đồng minh thì Việt Nam lại trở thành thuộc địa của người Pháp."  Đó là chưa kể hai thứ giặc nguy hại khác: giặc đói và giặc dốt thi nhau " hoành hành" tàn hại nước ta ... Gợi ra hoàn cảnh  như vậy để thấy tính chất luận chiến trong bản Tuyên ngôn độc lập mà Người chọn lựa là sắc sảo, đích đáng và sáng suốt biết  nhường nào !

  Vậy luận chiến là gì và tính chất luận chiến nên hiểu như thế nào ? Theo Từ điển từ và ngữ Hán - Việt của giáo sư Nguyễn Lân -NXB Văn học 1988, luận chiến là "dùng lí luận đấu tranh để bảo vệ chân lí ". Theo đó tính luận chiến được hiểu là tính chất chiến đấu bằng lí lẽ và cả chứng cứ khi cần thiết để bảo vệ chấn lí lẽ phải được mọi người thừa nhận .

  Đọc Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, ta thấy toát lên tính chất luận chiến mạnh mẽ, đanh thép , sâu sắc .Ngay trong phần mở đầu bàn Tuyên ngôn độc lập, với ý nghĩa  xác lập cơ sở pháp lí đúng đắn, vững chắc để tranh luận với kẻ thù, Người đã thâm ý dùng lại chân lí đã được cả thế giới thừa nhận ghi trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp . Đó là quyền tự do bình đẳng của con người :" Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền khoonh ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy ,có quyền được sống, quyền tự do  và quyền mưu cầu hạnh phúc" ( Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ ) . Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng khẳng định: " Người ta  sinh ra tự do và bình đẳng về quyến lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền . Rồi  từ quyền tự do bình đẳng của con người , Bác "suy rộng ra" để khẳng định quyền tự do bình đẳng của các dân tộc trên thế giới " Suy rộng ra ,câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bính đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do." Sự sáng tạo và đóng góp lớn lao của Bác ở đây là từ chấn lí đã có Người tạo ra chân lí mới " không ai chối cãi được" . Hơn nữa ,kinh nghiệm đấu lí là dùng lí lẽ của đối phương để tranh luận lại đối phương thì rất hiệu quả là để "chặn họng" đối phương . Đây là phương pháp lấy "gậy ông đập lưng ông" thật đắc địa .Như vậy là việc dùng lại  "chân lí" trong hai bản tuyên ngôn của nước Mí và Pháp không chỉ với mục đích tạo lập cơ sở pháp lí đúng đắn mà còn là "trân trọng các giá trị pháp lí văn minh của nhân loại" và là đòn hiểm trong nghệ thuật đấu lí dùng "gậy ông đập lưng ông " của Hồ Chí Minh. Phân tích như vậy để thấy Bác ta thông minh ,sắc sảo , thâm thuý  và chủ động đến nhường nào !

  Trong phần " luận tội" thực dân Pháp, lập luận của Bác cũng hết sức khéo léo và đanh thép hùng hồn . Trước khi "luận tội", Người đã chỉ ra bản chất giả nhân giả nghĩa, lừa bịp của thực dân Pháp .Hãy nghe Người viết :" Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta . Hành động của chúng trái hẵn với nhân đạo và chính nghĩa . "

  Ở nhóm tội ác về chính trị, Bác liệt kê ra 8 loại tội ác từ thấp đến cao mà thực dân Pháp đã gây ra đối với dân tộc ta từ :" không cho dân tày một chút tự do dân chủ, thi hành chính sách luật pháp dã man, thẳng tay chém giết những người yêu nước...Và cuối cùng là "thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược" .Câu văn ngắn , cấu trúc câu được lặp lại nhiều lần (Chúng -tuyệt đối, thi hành, lập ra, ràng buôc..) tạo nên âm hưởng mạnh mẽ ,hùng hồn đanh thép và thái độ căm thù sâu sắc trước những tội ác mà thực dân Pháp .

  Trong nhóm tội về kinh tế, Người cũng tiếp tục sữ dụng phép liệt kê tăng cấp (kẻ ra 6 loaị tội ác ) và nghệ thuật  điệp cú pháp để tranh biện,tố cáo tội ác của thực dân Pháp trước dư luận quốc tế .Đặc biệt ở  nhóm tội ác trong 5 năm (1940-1945) ,Người  vừa nêu tội ác vừa phân tích hậu quả .Đó là trong 5 năm , thưc dân Pháp  hai lần bán đứng nước ta cho phát xít Nhật . Thực dân Pháp là kẻ phản bội lại phe đồng minh (không chịu hợp tác với Việt Minh chống Nhật,quỳ gối đầu hàng ), là thủ phạm chính gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, khiến hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói . Vậy là tất cả những hành động, việc làm của Pháp đều chống lại chúng . Pháp nói chúng thi hành chính sách "nhân đạo" ư? Thì đây :chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa ta trong những bể máu , chúng bốc lột dân tày đến tận xương tuỷ, thẳng tay khủng bố Việt Minh, nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng..Người Pháp nói sang Việt Nam để "khai hoá văn minh", để "bảo hộ" ư ? .Thì đây:chúng thi hành luật pháp dã man, lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện và rượu cồn để làm cho nòi giống tày suy nhược...Người Pháp bảo hộ kiểu gì mà hai lần bán đứng nước ta cho phát xít Nhật ?

 Tính chất luận chiến còn thể hiện ở nội dung khẳng định và đề cao tinh thần đấu tranh kiên cường anh dũng của nhân dân ta lập nên hai kì tích lớn lao là : đập tan xiềng xích thực dân gần 100 năm và chế độ phát xít lập nên nước Việt Nam tự do độc lập ; đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ để lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà .Từ đó Bác khẳng định với người Pháp : sự thật là "dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp." Ở phần cuối bản Tuyên ngôn độc lập nước ta , Người khéo léo tranh thủ sự ủng hộ của phe đồng minh trong sách lược "thêm bạn bớt thù" :"Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của nước Việt Nam" .Thâm ý của Bác là: Anh, Pháp, Mỹ vốn là những đồng minh lớn của Liên Xô trong đại chiến thế giới thứ 2 chống lại phe phát xít Đức- Ý -Nhật .Bây giờ phe đồng minh đã ủng hộ Việt Nam ,lẽ nào Pháp lại làm không thừa nhận ?

  Ở cuối bàn Tuyên ngôn độc lập, Người dõng dạc tuyên bố trước toàn thế giới từng phương diện : trước tiên là " thoát li hẵn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyến của Pháp trên đất nước Việt Nam" . Tiếp đến Người khẳng định "...dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !" . Khép lai bản Tuyên ngôn độc lập, Người dõng dạc tuyên bố:" Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lương, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do,độc lập ấy." Ấy là Bác muốn khẳng định với thực đân Pháp là : nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam được lập nên bằng xương máu, bằng tinh thần đấu tranh kiên cường của nhân dân Vietj Nam . Vì vậy chúng ta  sẽ bảo vệ thành quả ấy bằng tất cả những gì có thể . Và chúng ta đã thực hiện ý chí đó của Người bằng cuộc kháng chiến chống Pháp làm nên một chiến thắng lich sử Điện Biên Phủ " Lừng lẩy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954 .

      Tìm hiểu tính chất luận chiến trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí MInh là để hiểu sâu sắc hơn nghệ thuật hùng biện, sức thuyết phục, nghệ thuật "đấu li" tài tình của Người qua cách bố cục bài văn chặt chẽ, qua hệ thống luận điểm, luấn cứ lô gic , qua hệ thống dẫn chứng cụ thể hùng hồn"không chối cãi được". Đó còn là nghệ thuật kết hợp sữ dụng nhuần nhuyễn các phương thức biểu đạt hợp lí đạt hiệu quả , là cách đặt câu, khai thác các biện pháp tu từ ...Vì vậy, đánh giá về bản Tuyên ngôn độc lập, sách Ngữ văn 12 tập I trang 38 đã viết:"Tuyên ngôn độc lập là một tác phẩm chính luận đặc sắc..."

  Tìm hiểu tinh chất luận chiên trong Tuyên ngôn độc lập của Bác ta càng thấm thía hơn vẻ đẹp trong tư tưởng ,phong cách, tình cảm của Hồ Chí MInh . Đó là một phong thái bình tỉnh, chủ động trong mọi tình huống, là "đấu lí,đấu tri" rất cao thương ,văn hoá; kiên quyết mà vẫn mềm dẻo; rất kiên định nhưng cũng linh hoạt ứng biến...Đẹp nhất trong tư tưởng của Người là tinh thần yêu nước mãnh liệt, lòng tự hào tự tôn dân tộc sâu sắc; là tư duy sắc sảo, sáng tạo ...

 Để khép lại bài viết của mình, tưởng không có nhận xét nào xác đáng hơn đánh giá sau đây trong sách Ngữ văn lớp 12 tập I :" Tuyên ngôn độc lập còn là áng văn tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta" . Trong hồi kí "Những năm tháng không thể nào quên " của đại tướng Võ Nguyên Giáp có ghi đại ý :trong cả cuộc đời viết văn làm báo dày kinh nghiệm chưa bao giờ Bác cảm "thấy sung sưóng, sảng khoái" đến như vậy sau khi hoàn thành bản Tuyên ngôn độc lập  .Tôi vô cùng tâm đắc với ý kiến của giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí MInh là "quốc bảo " của nước  Việt Nam .

Hữu Hợp

Tác giả bài viết: Nguyễn Hữu Hợp

Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ điển và điển cố

 

一诺千金[ Nhất nặc thiên kim] (một lời hứa đáng giá ngàn vàng)
Thành ngữ tiếng Trung này có xuất xứ từ hai chuyện sau đây
Câu chuyện thứ nhất:
Nhà cải cách nổi tiếng của Trung Quốc Thương Ưởng đã bằng mọi cách tạo lập cho mình hình ảnh của một người biết giữ lời hứa, trọng danh dự để thực hiện được nhanh chóng chủ trương thay đổi pháp chế của mình.
Năm 350 trước Công nguyên, Thương Ưởng tích cực chuẩn bị thay đổi pháp chế lần thứ hai.
Sau khi ông bàn bạc với Tần Hiểu Công và đi đến quyết định chuẩn bị đưa ra pháp chế mới, Thương Ưởng không vội vã công bố. Ông biết rằng khi chưa chiếm được lòng tin của nhân dân thì pháp luật khó có thể thực hiện được. Để dân tin, Thương Ưởng đã dùng biện pháp như sau:
Hôm đó là phiên chợ thành Hàm Dương, người xe đông như nước chảy.
Gần trưa một đội thị vệ mở đường cho một chiếc xe ngựa tiến đến phía nam thành. Trên xe không có gì ngoài một cây gỗ dài hơn 3 trượng. Có một số người tò mò đến xem, rồi cuối cùng người vây đến xem; mọi người không hiểu sẽ xảy ra chuyện gì cứ đi theo xe tới phía nam thành, người càng ngày càng đông.
Quân sĩ khiêng cây gỗ xuống và dựng ở đó. Một viên quan nói với mọi người rằng: “Nay có lệnh quan, ai chuyển được cây gỗ này sang cửa Bắc sẽ được thưởng 10 lạng vàng”.
Mọi người bàn tán, người nọ hỏi người kia, người ngoài thành hỏi người trong thành, người già hỏi người trẻ, trẻ nhỏ hỏi cha mẹ… Không ai biết cuối cùng là chuyện gì, vì rằng chưa ai nghe nói có chuyện như vậy. Có một thanh niên xắn tay áo định thử xem sao liền bị một người lớn tuổi bên cạnh khuyên ngăn: “Đừng, trên đời này làm gì có chuyện dễ ăn thế, bê một cây gỗ được 10 lạng vàng, đừng có mà dại”. Có người còn đế vào: “Đúng đấy, tôi nghĩ việc này nếu làm không được, có khi còn mất đầu đấy”.
Mọi người bàn tán, không ai dám thử. Viên quan nọ lại đọc lệnh của Thương Ưởng lần nữa, vẫn không có ai đứng ra làm.
Đứng trên cửa thành, Thương Ưởng lặng lẽ quan sát. Lúc sau ông quay lại nói lệnh cho người đứng cạnh mấy câu gì đó, người đó chạy xuống truyền đạt lệnh của Thương Ưởng cho vị quan đang đứng trước cây gỗ.
Viên quan nọ nghe xong liền nói to với mọi người: “Nay có lệnh cho mọi người, ai bê được cây gỗ này sang cửa Bắc sẽ được thưởng 50 lạng vàng”.
Mọi người càng ngạc nhiên, càng không có ai tin vào chuyện ấy. Lúc này có một người trung niên bước ra, chắp hai tay lại lễ phép nói: “Đã có lệnh ban, tôi xin chuyển cây gỗ này, chẳng dám lấy 50 lạng vàng, có thể được vài đồng tiền thưởng chăng”.
Người đàn ông nói rồi vác cây gỗ lên vai đi về phía cửa Bắc thành, cả một đoàn người cùng đi sang phía Bắc thành xem. Sau khi người đàn ông đặt cây gỗ ấy xuống, viên quan nọ liền đắt ông ta đến trước mặt Thương Ưởng.
Thương Ưởng cười mà nói với người đàn ông ấy rằng: “Ngươi là một trang Hảo Hán!” Thương Ưởng lấy ra 50 lạng vàng, tâng nhẹ trên tay nói: “Hãy cầm lấy?”
Tin đồn bay đi khắp nơi, ai cũng truyền tụng Thương Ưởng là vị quan biết giữ lời hứa. Khi thấy thời cơ đã chín muồi Thương Ưởng lập tức đưa ra pháp chế mới. Lần thứ 2 thay đổi pháp chế đã giành được thành công.
Câu chuyện thứ hai:
Quý Bố là người nước Sở, tính khí khái, thích làm việc nghĩa hiệp. Ông rất có danh tiếng. Quý Bố theo Sở Bá vương Hạng Vũ được làm tướng.
Trong cuộc chiến tranh với Hán, Quý Bố cầm quân nhiều lần làm Lưu Bang nguy khốn. Vì vậy khi Hạng Vũ bị diệt, Lưu Bang treo thưởng ngàn vàng cho ai tìm được Quý Bố, ai dám giấu trong nhà thì trị tội giết ba họ.
Quý Bố trốn ở nhà họ Chu ở đất Bộc Dương. Họ Chu tìm cách cứu Quý Bố, bèn cạo đầu ông, lấy vòng sắt buộc vào cổ, cho mặc áo ngắn đặt ở trong xe tang cùng vài mươi người đầy tớ trong nhà, rồi đem Quý Bố đến bán cho nhà Chu Gia vốn là một người nghĩa hiệp. Chu Gia nhận ra Quý Bố, bèn mua ông về và cho ra đồng cày ruộng, đồng thời dặn con trai phải đối xử tốt với ông, hứa với Quý Bố sẽ giúp người này tránh khỏi họa chu di tam tộc.
Sau đó Chu Gia lên xe ngựa đi Lạc Dương, vào gặp đại thần Hạ Hầu Anh, đề nghị Hạ Hầu Anh nên nói giúp với Lưu Bang để Quý Bố được sống, vì khi ông phục vụ cho Hạng Vũ chỉ biết làm theo bổn phận.
Hạ Hầu Anh thấy Chu Gia nói phải, bèn tâu lên Lưu Bang. Lưu Bang bằng lòng tha tội cho Quý Bố, gọi ông đến phong làm lang trung.
Như vậy lời hứa của Quý Bố đáng giá ngàn vàng.
Qua những câu truyện này, người Trung Hoa đúc kết ra câu thành ngữ: “一诺千金” (Yīnuòqiānjīn) – Nhất Nặc Thiên Kim – Lời Hứa Ngàn Vàng để chỉ giá trị của lời hứa.

(33)    五湖四海 [ Ngũ hồ tứ hải]
Trong Luận Ngữ - Nhan Uyên 论语  - 颜渊 có câu:
Tứ hải chi nội, giai huynh đệ dã
四海之内, 皆兄弟也
(Trong bốn biển đều là anh em)
Lữ Nham (吕岩) trong Tuyệt cú (绝句 ) có viết:
Đấu lạp  vi phàm phiến tác chu
Ngũ hồ tứ hải nhậm ngao du
斗笠为帆扇作舟
五湖四海任遨游
(Lấy nón làm buồm, lấy quạt làm thuyền
Trong năm hồ bốn biển mặc tình ngao du)
 Cả hai chỗ đều sử dụng từ “tứ hải”. Khổng Tử (孔子) chu du các nước, hiểu rộng biết nhiều, có lẽ đã đi qua “tứ hải”; còn Lữ Nham lấy tinh thần  Đạo gia để tu thân dưỡng tính, chắc cũng đi khắp “ngũ hồ”. Nhưng “ngũ hồ tứ hải” này cụ thể chỉ những nơi nào?
          Về tứ hải, xưa nay có nhiều cách nói. Lưu Hướng (刘向) đời Hán trong Thuyết Uyển – Biện Vật (说苑 - 辩物) cho rằng “vây bọc đất cửu châu là tứ hải”. Trong Nhĩ Nhã – Thích Địa (尔雅 - 释地) cho rằng: tứ hải chính là “Đông hải” “Tây hải” “Nam hải” “Bắc hải” mà trong Lễ Kí – Tế Nghĩa (礼记 - 祭义) nói đến. Tuy không chỉ rõ hải vực, nhưng việc đề xuất cách nói này cũng cung cấp vạch phân tứ hải cho người đời sau tham khảo. Đến đời Tống, Hồng Mại (洪迈) trong Dung Trai Tuỳ Bút (容斋随笔) giải thích rằng: “tứ hải là một”. Ý nói tứ hải là một chỉnh thể, mượn chỉ thiên hạ.
          Về ngũ hồ, các cách nói đều khác nhau, Lịch Đạo Nguyên (郦道元)trong Thuỷ Kinh Chú (水经注) nói ngũ hồ là chỉ Đãng hồ (荡湖), Thái hồ 太湖, (Xạ hồ 射湖), Quý hồ (贵湖), Hách hồ (滆湖). Tư Mã Trinh (司马贞)lại đề xuất khu vực cụ thể Thao Hách (洮滆), Bành Lãi (彭蠡), Thanh Thảo (青草), Động Đình hồ (洞庭湖) là 5 hồ ..... Trong nhất thời nhiều cách nói về ngũ hồ bất nhất.
          Đến nay, đối với ngũ hồ tứ hải người ta đã tiến một bước giải thích, định vị về địa lí tương đối nhỏ, lại thêm có hồ biển đối ứng. Ngũ hồ tức Động Đình hồ(洞庭湖), Bà Dương hồ (鄱阳湖), Thái hồ(太湖), Hồng Trạch hồ (洪泽湖), Sào hồ (巢湖); còn tứ hải chỉ Bột hải (渤海), Hoàng hải (黄海), Đông hải (东海), Nam hải (南海). Lại nhân vì từ trong diễn biến xưa nay, bao hàm ý nghĩa cương vực rộng lớn, mọi người bèn mượn ngũ hồ tứ hải để chỉ các nơi trong cả nước. Nghĩa rộng hơn, phạm vi của ngũ hồ tứ hải không chỉ giới hạn ở Trung Quốc, mà là chỉ toàn thiên hạ, khắp mọi nơi trên thế giới.                                                   
(Theo cuốn趣味文化知识大全(Thú vị văn hóa tri thức đại toàn)
Do 青石(Thanh Thạch) biên soạn, Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013)
Gần với thành ngữ này là四面八方 (bốn mặt tám phương / bốn phương tám hướng) 五洲四海 (năm châu bốn biển). Trong tiếng Việt ta cũng nói “năm châu bốn biển”. Theo học giả An Chi, đây cũng là một thành ngữ mang tính ước lệ chứ không phải là cách ghi nhận chính xác về địa lý thế giới hiện đại.
Trong một bài báo, Mao Trạch Đông đã viết:
我们都是来自五湖四海,为了一个共同的革命目标,走到一起来了。     (毛泽东《为人民服务》)
(Tạm dịch: Chúng ta đến từ năm châu  bốn biển (khắp nơi), vì mục tiêu cách mạng chung, cùng nhau tiến tới.)
                                               (Mao Trạch Đông – Vì Nhân dân phục vụ)
 
(34)    天涯何處無芳草 [ Thiên nhai hà xứ vô phương thảo] (Chân trời nơi nào không có cỏ thơm.)
Đây là thành ngữ có xuất xứ từ bài thơ “Điệp luyến hoa – Tình xuân” của Tô Đông Pha đời Tống. Bài thơ như sau:
蝶戀花-春情

花褪殘紅青杏小,
燕子飛時,
綠水人家繞。
枝上柳棉吹又少,
天涯何處無芳草!

牆裡鞦韆牆外道,
牆外行人,
牆裡佳人笑。
笑漸不聞聲漸悄,
多情卻被無情惱。

 Phiên âm:
Điệp luyến hoa - Xuân tình
Hoa thoái tàn hồng thanh hạnh tiểu,
Yến tử phi thì,
Lục thuỷ nhân gia nhiễu.
Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu,
Thiên nhai hà xứ vô phương thảo.

Tường lý thu thiên, tường ngoại đạo,
Tường ngoại hành nhân,
Tường lý giai nhân tiếu.
Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm tiễu,
Đa tình khước bị vô tình não.

Bản dịch thơ của Nguyễn Chí Viễn

Hoa rụng tàn hồng, thanh hạnh nhỏ,
Chim yến bay về,
Nước biếc vòng quanh ngõ.
Tơ liễu trên cành bay lỗ chỗ,
Ven trời trông hút xanh liền cỏ.

Trong luỹ giá đu, ngoài luỹ lộ,
Ngoài lộ người đi,
Trong mỹ nhân cười rộ.
Tiếng cười bỗng bặt nghe không rõ,
Vô tình khiến khách đa tình khổ.

(Theo: Tuyển tập từ Trung Hoa - Nhật Bản, Nguyễn Chí Viễn, NXB Văn hoá - Thông tin,  1996)
Đây là thành ngữ dùng nhiều trong tiếng Hán. Nghĩa đen của nó là chân trời nơi nào không có cỏ thơm. Trên đời này thiếu gì gái đẹp, hà tất cứ phải yêu một người. Nó được dùng như lời an ủi khi ai đó bị thất tình.

(35)    爱屋及乌[Ái Ốc cập ô] ( yêu ai yêu cả đường đi) : Dùng để nói yêu thích một người nào đó mà yêu luôn tất cả những gì liên quan tới người đó
乌  “ô” : là con quạ
Nó có xuất xứ như sau:
Quân Chu lật đổ nhà Thương, sau khi Thương Trụ Vương chết, Chu Vũ Vương lên ngôi. Nhưng trong lòng Chu Vũ Vương vẫn chưa yên tâm, bởi vì ông cảm thấy thiên hạ vẫn chưa được an định. Ông cho triệu kiến Khương Thái Công, hỏi : "Sau khi vào An đô,ta nên xử trí những quyền thần quý tộc, quan binh của triều đại cũ ra sao ?"
Khương Thái Công nói: “Thần có nghe nói câu này : Nếu như yêu thích một căn nhà nào đó thì cũng yêu luôn cả con quạ trên mái nhà người ta; Nếu như không thích ai đó thì ghét luôn cả tường bích hàng rào nhà người ta. Điều đó đã rất rõ ràng, giết chết toàn bộ những gì thuộc về kẻ địch, một người cũng không để lại, Đại Vương thấy sao?”
Vũ Vương cho rằng điều đó quá tàn nhẫn . Lúc này Chiêu Công Cơ Thích tiến lên nói: “Thần cũng đã từng nghe nói câu này: 'Người có tội, phải giết; người vô tội thì hãy nên để cho họ tiếp tục sống. Nên giết chết tất cả những người có tội, không để cho chúng còn lại chút tàn dư.' Đại Vương, Ngài nghĩ sao?"
Vũ Vương như vậy làm như vậy thì cũng không thoả đáng. Lúc này, Chu Công tiến lên nói: “Theo thần thì nên cho tất cả mọi người ai về nhà đó , ai trồng ruộng người đó. Bậc quân vương không nên chỉ thiên vị bạn bè cũ và thân thuộc của mình, nên lấy nhân nghĩa để cảm hoá người trong thiên hạ.”
Vũ Vương nghe vậy thì rất đỗi vui mừng, như đưọc mở cờ trong bụng, bèn nghĩ nếu lấy cách đó để trị quốc thì có thể an định được thiên hạ.
Sau đó , Vũ vương đã thục hiện nhân nghĩa theo đề nghị của Chu Công, hậu đãi quý tộc, quan lại, tướng sĩ của thời xưa, hậu đãi trăm họ trong thiên hạ. Quả nhiên, thiên hạ đã đưọc an định nhanh chóng, lòng dân quy thuận, Tây Chu cũng ngày càng lớn mạnh .
Mọi dân tộc tư duy thì giống nhau nhưng cách biểu đạt thì khác nhau. Thành ngữ爱屋及乌[Ái Ốc cập ô] tương đương với tiếng Anh là Love me love  my dog (yêu tôi hãy yêu cả con chó của tôi). Trong khi đó người Việt nói là:
Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tong ti họ hàng
Lại cũng nói: “Yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau củ bồ hòn cũng méo”.

(còn nữa kì sau đăng tiếp)

Nguyễn Ngọc Kiên

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Kiên

https://nguyenduyxuan.net/